Chủ Nhật, 24 tháng 8, 2008

{CDs}PHẠM ĐÌNH CHƯƠNG-Quê hương một nỗi niềm...

Có nhiều người cho rằng thơ phổ nhạc không còn chất thơ nguyên thủy nữa bởi vì nhạc sẽ làm giảm đi cái nét thâm trầm sâu sắc mà thơ phải chuyên chở. Một người chủ trương như vậy là nhà văn Tạ Tỵ. Khi được hỏi về những bài thơ phổ nhạc mà có sự ví von là nhạc chắp cánh cho thơ trong đó có bài “Thương về 5 cửa ô xưa” của ông.

Hoài Bắc – Hoài Trung – Thái Hằng – Thái Thanh:



Nhưng có nhiều người thì nghĩ khác. Như nhạc sĩ Anh Bằng, người đã phổ hàng trăm bài thơ thì cho rằng thơ phổ nhạc là một nét đặc thù của văn nghệ Việt Nam. Trong khi nói chuyện với tôi ông đã tỏ ra rất trân trọng những bài thơ phổ nhạc của nhạc sĩ Phạm Đình Chương và cho rằng đó là một nhạc sĩ phổ thơ hay nhất của âm nhạc Việt nam.

Riêng với tôi, nghe lại những bản nhạc phổ từ thơ của người ca sĩ chủ chốt của ban hợp ca Thăng Long Hoài Bắc, tôi đã bị lôi cuốn vào một thế giới âm nhạc tuyệt vời. Từ những bài thơ nổi tiếng, nhạc đã mở ra thành những thế giới riêng và cất cao lên những cung bậc ngân nga trong tâm não. Thơ Quang Dũng (Đôi mắt người Sơn Tây) như có phả vào trong nhạc Pham Đình Chương những nỗi niềm sầu xứ riêng của một người yêu quê hương tha thiết. Thơ Thanh Tâm Tuyền (Lệ đá xanh) những câu thơ tự do trúc trắc lại trở thành những cung bậc mượt mà và hình như trong từng nốt nhạc từng lời ca được chọn lọc trong thơ có một điều gì sẻ chia đồng cảm. Với thi ca, nhạc Phạm Đình Chương là bạn đồng hành.
Image


Và mỗi khi buồn, những bản nhạc tình của Phạm Đình Chương đã làm tôi da diết hơn nỗi đau và nhức buốt thêm nỗi nhớ. Tha thiết, lãng mạn, như nghe Nửa hồn thương đau, nghe “Người đi qua đời tôi”, những lời và nhạc quyện vào nhau. Ngân lên. Réo rắt.
Phạm Đình Chương, người nhạc sĩ tài hoa đã làm phong phú cho gia tài âm nhạc Việt Nam. So với các nhạc sĩ nổi tiếng khác số lượng sáng tác của ông không nhiều lắm nhưng đã có rất nhiều ca khúc đã đi vào cõi bất tử. Nhạc của ông còn có tuổi thọ hơn ông nhiều lần. Những ca khúc đã nổi tiếng đến nỗi thành quen thuộc trong đời sống hàng ngày của người Việt Nam.
Riêng với cá nhân tôi, mỗi lần nghe lại những bản nhạc như “Sáng Rừng” hay trường ca “Hội Trùng Dương”, tôi lại bồi hồi nhớ đến những ngày xưa lúc mới lên trung học. Ở ngôi trường mà trước đây là chỗ nuôi ngựa của quân đội Nhật sau sửa chữa thành Trung Tâm Học Liệu, nơi chúng tôi đã học hát những bài này với thầy Chung Quân ròng rã những năm đệ thất, đệ lục. Những bài hát đã tạo ấn tượng rất mạnh cho tôi từ ngôn ngữ đến âm điệu. Những bài hát làm tôi yêu mến hơn quê hương đất nước tôi. Tôi nhớ cả lớp tôi chia làm hai bè và những câu hát cứ đuổi theo nhau như lượn sóng ào ạt cuồn cuộn: “… Sóng muôn triền tới sóng xô về tới như muôn tình mới vươn sức người. Bừng giữa đời…” Chúng tôi cứ thế mà hào hứng hát trong cái kích động vô cùng của chuyển khúc nhạc… Thầy Chung Quân, tác giả của ca khúc nổi tiếng “Làng tôi“ thì không hết lời giảng giải với bọn học trò chúng tôi những nét hay ý đẹp của những ca khúc này. Thành ra, tuy tôi chưa gặp mặt bao giờ nhưng lại vô cùng quen thuộc khi nghe nhắc tới tên tuổi của nhà nhạc sĩ Phạm Đình Chương…Hình như trong tiềm thức của tôi, đã có một vóc dáng nhạc sĩ cực kỳ to lớn. Những lờica hằn trong tâm thức và một lúc nào, có chất xúc tác, bùng vỡ cảm xúc như trôi theo suối, theo sông…
Rồi thời gian trôi, tôi lớn lên, vào đại học rồi đi lính, đi tù, rồi vượt biên, rồi lưu lạc xứ người, mãi thời gian khoảng thập niên 80 tôi mới gặp lại ông. Và hình như, cái vóc dáng ngày xưa mà tôi tưởng tượng dường như không sai biệt mấy. Trong một buổi họp mặt văn nghệ ở quán Doanh Doanh của anh chị Thái Tú Hạp, ông hát bản nhạc mới sáng tác phổ từ thơ Du Tử Lê “Đêm nhớ trăng Sài Gòn“ và bản “Hạt bụi nào bay qua “ từ thơ Thái Tú Hạp. Dáng ông cao gầy, nói chuyện có duyên với giọng thật đặc biệt Bắc Kỳ Sơn Tây, mặc dù lúc đó hơi men đã ngấm. Ông hát rất truyền cảm và tạo được những phút giây lắng đọng trước khi chấm dứt làm người nghe ngưng một giây sững sờ trước khi vỗ tay vang dội… Trong tiếng nhạc, có tâm sự tỏ bầy. Trong lời ca, có mênh mông những khung trời quá khứ…

Theo tài liệu của nhạc sĩ Phạm Thành là con ruột ông thì nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh ngày 14 tháng 11 năm 1929 tại Bạch Mai. Quê nội ông ở Hà Nội và quê ngoại ở Sơn Tây. Gia đình ông là một gia đình nghệ sĩ, thân phụ ông đánh đàn tranh rất tuyệt trong khi thân mẫu ông chơi đàn bầu cũng rất hay. Thành ra nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, tác giả Nắng Chiều đã rất hữu lý khi phát biểu rằng nhạc của Phạm Đình Chương đã biểu lộ được những tinh túy của âm điệu ngũ cung. Sống trong một gia đình nghệ sĩ “nòi “ như vậy thì hấp thụ được những tinh hoa của nguồn nhạc dân tộc tính là chuyện dĩ nhiên. .
Image


Ông bắt đầu học nhạc lý từ khi còn thơ ấu. Lúc mười bẩy tuổi ông đã sáng tác bản nhạc đầu tay “Ra đi khi trời vừa sáng“ với lời nhạc trong sáng nhịp điệu vui tươi tới bây giờ vẫn còn nhiều người hát. Thí dụ như Đài phát thanh Little Sài Gòn ở Orange County đã dùng làm bản nhạc khởi đầu chương trình “Chào bình minh“ mỗi buổi sáng.
Thời kháng chiến chống Pháp sau năm 1945, cũng như những chàng trai Hà Nội yêu nước, ông gia nhập vào các đoàn văn nghệ lưu động của Liên khu 4 và Liên khu 3. Ông đi đến nhiều nơi: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa thiên... Thời kỳ này, ông sáng tác những bài hát kích động tinh thần yêu nước, chấp nhận những khó khăn, có bóng dáng của chiến tranh nhưng không hận thù chém giết. Như ca khúc “Được Mùa“ âm điệu vui tươi, chứa chan tình cảm với lòng tin tưởng vào tương lai. Trong khi những bản nhạc cùng thời sáng tác như “Ngày Mùa“ của Văn Cao, “Gánh Lúa “ của Phạm Duy, hay “Dân Ca Lúa Vàng“ của Mặc Thy, thì lời ca tiếng nhạc có bóng dáng của chém giết chiến tranh hơn.
Nhà văn Mai Thảo khi còn sinh tiền hay thường kể về những ngày tháng đầy hào hứng của tuổi trẻ của những thanh niên lớp tuổi ông và Phạm Đình Chương, vai đeo bạc đà tay bút tay đàn rộn rã với sinh hoạt văn nghệ thời kỳ toàn dân chống giặc. Nhà văn Tạ Tỵ trong hồi ký viết về các văn nghệ sĩ mà ông quen biết cũng nhắc đến quán cà phê của gia đình Ban Hợp Ca Thăng Long thuở ấy. Vừa lưu diễn vừa sáng tác, tay đàn tay bút, từ đồng nội đến núi rừng, sinh lực tuổi trẻ và tâm tình yêu nước đã thể hiện trong từng ca khúc của Phạm Đình Chương.




Sau chính sách Cải cách Ruộng Đất và những ngày rèn cán chỉnh quân, bộ mặt Cộng sản dần dần ló dạng, ông và gia đình trở về thành và vào Sài Gòn sinh sống. Ơû đây, ông cùng với anh ruột là nhạc sĩ Hoài Trung, chị ruột là ca sĩ Thái Hằng, anh rể là nhạc sĩ Phạm Duy, em ruột là ca sĩ Thái Thanh lập thành Ban Hợp ca Thăng Long. Đôi khi còn tăng cường ca sĩ Khánh Ngọc. Ban hợp ca Thăng Long đã hoạt động liên tục trong một thời gian dài. Có khi trình diễn ở Hà Nội thì đổi tên là Ban Hợp Ca Gió Nam với sự góp mặt của nhạc sĩ Nam Tiến (tức Trần Văn Trạch) Kỷ niệm những ngày lưu diễn này nhạc sĩ Trần Văn Trạch đã nhắc đến và tâm sự nhiều lần trước khi qua đời và coi như một kỷ niệm đẹp trong đời ca hát của người nghệ sĩ lão thành này.
Những ngày ở miền Nam là những ngày sáng tác sung mãn của ông. ‘Ly rượu mừng” bài hát vui tươi tràn dầy mộng ước, là lời chúc rất nhân bản đã trở thành một bài hát mở đầu cho những buổi họp mặt của hầu hết mọi người dòng dã mấy chục năm về sau. Hay “Tiếng dân chài”, theo lời kể của tác giả là một sáng tác từ cảm hứng trên bờ sông Mã khi mục kích sinh hoạt của những người dân chài lưới.



Thời kỳ này Ban Hợp ca Thăng Long nổi tiếng đến nỗi bìa của giai phẩm xuân “Đời Mới” của nhà báo kiêm chính khách Trần Văn Aân có hình ban Thăng Long có hai cô Thái một cô Khánh (Thái Thanh, Thái Hằng, Khánh Ngọc) phải in thêm để có đủ số lượng bán.
Là linh hồn của Ban Thăng Long, những sáng tác của ông đã góp phần làm rạng rỡ những thành công vượt bực. Như Sáng Rừng, như Ra Đi Khi Trời Vừa Sáng, như Tiếng Dân Chài, như Bài Ca Tuổi Trẻ,
Như Anh Đi Chiến Dịch, như Ly Rượu Mừng, … Những bài hát đã thật quen thuộc đến trở thành một phần đời sống của những người dân ở miền Nam Việt Nam.
Image
Nhưng một gia sản to lớn cuả nhạc sĩ để lại cho âm nhạc Việt Nam là trường ca “Hội Trùng Dương”. Theo Phạm Thành cho biết thì thời gian sáng tác để hoàn tất là bốn năm dòng dã. Nhiều người đã xếp hạng “Hội Trùng Dương” ngang hàng với những “Trường Ca Sông Lô“ của Văn Cao hay “ Hòn Vọng Phu“ của Lê Thương, những nỗi niềm và những khát vọng của dân tộc được thể hiện. Sáng tác trong thời gian đất nước bị chia đôi, ông muốn nói lên cái tâm tư Bắc Nam là một và những dòng sông rồi cũng xuôi về biển Mẹ. Sông Hồng, với thao thiết âm thanh Quan Họ. Sông Hương, với đồng vọng giọng hò mái đẩy xứ thần kinh. Sông Cửu Long, với tiếng dân ca mộc mạc. Tất cả, trộn lẫn lại để thành tiếng hát đầy tình tự dân tộc và trong sáng. Thấp thoáng trong nốt nhạc, lời ca là sự lạc quan của những người tin tưởng vào tương lai của đất nước.
Năm 1967, ông nhận tổ chức và điều khiển phòng trà Đêm Mầu Hồng (cũng là tên của một ca khúc mà ông phổ nhạc từ thơ của Thanh Tâm Tuyền). Những sáng tác nổi danh của ông và sự trình diễn điêu luyện của Ban Hợp Ca Thăng Long đã biến phòng trà này một chỗ nổi tiếng nhất và là nơi tụ tập của những nghệ sĩ hàng đầu của đô thành Sài Gòn.
Trong nhạc Phạm Đình Chương, thi ca đóng một vai trò quan yếu. Hình như bắt nguồn từ sự đồng cảm với thi sĩ, nhạc đã tháp cánh cho thơ vút cao. Những vần thơ của Đinh Hùng, Hoàng Anh Tuấn, Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Quang Dũng, Trần dạ Từ, … trước năm 1975 hay Du Tử Lê, Kim Tuấn, Thái Tú Hạp, … sau năm 1975 ở hải ngoại đã thành những ca khúc có sức lôi cuốn mạnh mẽ và nói lên được tâm tư của thời đại. Thơ, với chất lãng mạn sẵn có, hợp cùng âm điệu của nhạc để thành những nhớ lại từ liên tưởng những cuộc tình, những phận người. Để rồi có sự chia sẻø với suy nghĩ, vớiø ngôn ngữ, với thanh âm, đã mở hướng đi xa đến vời vợi hơn những cửa ngõ này, những chân trời kia…
Image
Nhạc sĩ Vũ Thành đã có lần nhận xét rằng phổ thơ như Phạm đình Chương từ bài thơ “Tự Tình Dưới Hoa“ của Đinh Hùng thành “Mộng Dưới Hoa“ là việc hình thành một “tuyệt tác đáng phục“. Nhạc sĩ khéo léo phổ toàn bộ bài thơ với một ngôn ngữ óng mượt trữ tình và kỹ thuật chuyển âm tuyệt diệu. Nhất là, chất lãng mạn được giữ nguyên nếu không nói là tăng thêm bội phần.
Một trường hợp khác, ông đã phổ thành công những bài thơ của thi sĩ Thanh Tâm Tuyền. Nhiều nhạc sĩ nhận xét rằng phổ những bài thơ tự do, âm điệu phóng túng, với nhiều vần trắc, như thơ Thanh Tâm Tuyền không phải là việc dễ dàng. Thế mà, với Dạ Tâm Khúc, với Bài Ngợi Ca Tình Yêu, với Đêm Mầu Hồng, cái ý thơ cảm được nhưng khó diễn tả bằng lời đã được truyền cảm trọn vẹn. Thơ, đi gần tới hơn đối tượng và bằng nhịp điệu lôi cuốn người nghe với nghệ thuật riêng của nhịp cầu âm điệu. Không biết thành công này có phải bắt nguồn từ sự đồng cảm giữa thi sĩ và nhạc sĩ qua mối thâm giao lâu đời chăng?






Biến cố tháng tư năm 1975 khiến ông phải làm nhân chứng cho một cuộc đổi đời. Sống ở Saigòn những năm tháng nghẹt thở rồi sau cùng ông và gia đình vượt biển năm 1979 rồi sang định cư ở xứ người. Đời sống thúc bách của sinh kế không làm ông ngưng sáng tác.
Tâm sự một người lưu lạc chất ngất nỗi niềm khiến cho ông cảm thấy gần gũi với những vần thơ của thi sĩ Du Tử Lê. Những bài thơ như “Khi tôi chết hãy mang tôi ra biển”, ”Đêm, nhớ trăng Sài gòn“, hay “Quê hương là người đó“ được phổ nhạc trong sự chia sẻ ấy. Quê hương mới đây mà đã cách biệt ngàn trùng. Những không gian, thời gian đã xa mất hút nhưng sao còn gần gũi. Tâm sự chúng ta đôi khi khác nhau nhưng vẫn cùng mẫu số. Mẫu số của một thời đại lưu vong.
Có lẽ trong những nhà thơ, Du Tử Lê là người có duyên với các nhạc sĩ nhất cũng như thi sĩ Đinh Hùng thời trước. Gần một trăm bài thơ được phổ nhạc với rất nhiều ca khúc gần như “bất tử“ phải là một hiện tượng trong đời sống văn học Việt Nam.
Nhà văn Mai Thảo đã viết về người bạn tâm giao của mình với dẫn chứng từ những tài năng âm nhạc khả tín:
“… Trên một tầm cao hơn, thuần túy nhạc lý và nhạc tính hơn, những điểm xuất sắc của cõi nhạc, nét nhạc Phạm Đình Chương cũng được những kiến thức có thẩm quyền hết lời khen ngợi. Như một nhận xét tổng quát của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi. Là đường nét của âm điệu (ligne melodique) cách thế hòa âm, tiết điệu và bố cục từ khúc, mặt nào ở Phạm Đình Chương cũng cao sang, điêu luyện và thuần phục. Cao và sang nhưng không khó không xa rất hợp rất gần với tâm hồn đại chúng. Như một phân tích tóm gọn của nhạc sĩ Lê trọng Nguyễn.
Là Phạm Đình Chương xử dụng ngũ cung tài giỏi, cấu trúc và kỹ thuật nhạc hiện đại, tiền tiến nhưng vẫn giữ dược âm điệu, yếu tính (essence) và tâm hồn Việt Nam… “




Riêng tôi, qua hơn sáu chục ca khúc cho một khoảng hơn bốn mươi lăm năm sáng tác, tôi đã nhìn thấy rõ một vóc dáng nhạc sĩ lớn. Là người ngợi ca tình yêu, với những ca khúc để đời : Mộng Dưới Hoa, Ngợi Ca Tình Yêu, Người Đi Qua Đời Tôi, Mầu Kỷ Niệm... Là người yêu quê hương, tin tưởng vào tương lai dân tộc, với Tiếng Dân Chài, với Được Mùa, với trường ca Hội Trùng Dương, … Là người lưu lạc tha hương, nhớ về chốn cũ nhà xưa, với Mưa Saigòn, Mưa Hà Nội, với Đêm, Nhớ Trăng Saigòn, với Khi Tôi Chết Hãy Mang Tôi ra Biển, … Là người nhạc sĩ yêu đời mang nghững bài ca tươi thắm với Sáng Rừng, với Trăng Rừng, với Ra Đi Khi Trời Vừa Sáng, … Tất cả, thành một vóc dáng âm nhạc đa diện. Ở mặt nào, cũng là đặc sắc. Ở cõi nào, cũng là khai phá bước chân. Mỗi mỗi, là những hiển lộng nghệ thuật. , những dụng công tinh vi. Aâm nhạc và đời sống có những bổ túc để thành một nhất quán cho sáng tác.
Dù nhạc sĩ đã qua đời vào năm 1991, nhưng tuổi thọ của những ca khúc hầu như bất tử sẽ còn dài hơn rất nhiều 62 tuổi hưởng thọ. Đã có những chương trình hát và tưởng niệm cố nhạc sĩ. Đã có những ca khúc được trình bày như một cách thế cảm tạ những công trình mà có người gọi là những bông hoa tô điểm cho đời.



_____________________________

Ngày trước, cụ Tiên Điền Nguyễn Du đã than thở rằng “bất tri tam bách dư niên hậu, thiên hạ thùy nhân khấp Tố Như”. Bây giờ, với những cõi nhạc như Phạm Đình Chương, có lẽ đến vài thế kỷ sau vẫn còn đồng vọng những ca khúc như Hội Trùng Dương hay Mộng Dưới Hoa chăng? Có thể lắm chứ sao không? Đã gần nửa thế kỷ rồi mà lời nhạc vẫn xanh và bóng mát vẫn tỏa cùng trên quê hương mà âm điệu còn vang xa ra trên phần đất mà con dân Việt nam sinh sống trên toàn thế giới !!!
Nguyễn Mạnh Trinh


August 01, 2008


DVD phát hành hồi tháng Ba năm 2004 tưởng niệm nhạc sĩ do Hội Ung Thư Việt Mỹ tổ chức (www.vacf.org) vào tháng Chín năm 2003 tại Hí Viện La Mirada. DVD này do Thúy Nga đại diện phát hành.

Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa, Nhạc Trưởng Nguyễn Khánh Hồng, Ban Hợp Xướng Hy Vọng, Dàn Nhạc Vietnamese American Philharmonic Orchestra trong Ngày Tưởng Niệm Nhạc Sĩ Phạm Đình Chương, La Mirada Theater, 21 tháng 9, 2003





Image


MP3 :( ai mà có đầu ghi DVD Huy sẽ cho mượn DVD chép mà xem:)

PART 1
PART 2
OR

Link: Part 1 http://www.megaupload.com/?d=DV14TXZH

Link: Part 2 http://www.megaupload.com/?d=7JGH1H3G

Link: Part 3 http://www.megaupload.com/?d=29IX8F8X


- Hình ảnh đẹp: toàn bộ quay trực tiếp buổi hòa nhạc do đạo diễn và quay phim Đinh Anh Dũng đảm trách (đạo diễn này nổi danh từ các bộ phim video chuyên đề nhạc sĩ Văn Cao – Buổi Sáng Có Trong Sự Thật, Đoàn Chuẩn – Từ Linh, Phạm Duy – Người Tình.)



- Âm thanh và Hình ảnh trung thực vì concert được quay trực tiếp nên người xem DVD có thể cảm nhận sống động như đang tham dự buổi hòa nhạc vậy.



- MC Vũ Kiểm và Y Sa giới thiệu ngắn gọn đầy đủ, dễ hiểu và nhất là giọng đọc của hai vị này rất hay và truyền cảm. Tuy nhiên cô Y Sa mặc trang phục áo dài cách tân hai dây màu xanh dương kim tuyến, nhìn không ổn mắt lắm dù cô có bờ vai đẹp (áo đi đằng áo, người đi đằng người).



- Dàn nhạc Vietnamese American Philharmonic Orchestra được điều khiển bởi nhạc trưởng Nguyễn Khánh Hồng.



- Hòa âm: các nhạc sĩ Lê Văn Khoa, Đặng Xuân Thìn, Trần Chúc, Vương Hương và Duy Cường.



- Highlights của buổi hòa nhạc:



+ Hợp xướng các bài đều rất hay …đặc biệt Bài Ca Tuổi Trẻ, Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội và Tiếng Dân Chài. Trong Tiếng Dân Chài, Lê Hồng Quang lĩnh xướng rất hay, nhưng về mỹ cảm xem anh hát không được ổn, có vẻ anh “gồng” quá trong khi giọng hát của anh không phải là power lắm (giống Nguyễn Thành Vân). Sáng Rừng: dù là một dàn hợp ca nhưng nghe không lôi cuốn và hào hứng như ban Thăng Long chỉ có ba người trình bày, nhưng nghe OK.



+ Thái Hiền, cô hát Màu Kỷ Niệm và Đêm Màu Hồng rất dễ thương, tuy nhiên trong chương trình này giọng cô hơi nghẹt một tí xíu. Về diện mạo và trang phục, thần sắc cô không sáng lắm mặc dù phong thái trình diễn của cô thoải mái tươi tắn. Từ trước đến nay xuất hiện trên sân khấu Thái Hiền luôn có những bộ trang phục thật lạ và unique, nhưng làm vừa lòng những người hâm mộ cô. Kiểu áo hai dây màu gạch cô mặc, phía trước ngắn trên gối, phía sau có đuôi dài như đuôi công, trông vừa sexy nhưng cũng vừa quý phái. Dáng cô đứng hát trên sân khấu cao sang và ăn ảnh từ xa, gợi nhớ người đẹp mình hạc xương mai, hay vai em gầy guộc của Trịnh Công Sơn.



+ Phạm Thành, con trai của nhạc sĩ PĐC, trông anh giống cô Khánh Ngọc. Anh hát bài Hạt Bụi Nào Bay Qua hay và luôn cuốn, tự bản thân bài hát này giai điệu và lời thơ đã tuyệt vời. Dàn nhạc chơi cho bản này soạn rất công phu.



+ Mai Hương, cô hát live bao giờ nghe cũng hấp dẫn …bài Xuân Tha Hương được nhiều người diễn tả trước đó … nhưng với Mai Hương cô luôn dẫn dắt khán thính giả theo sát từng sóng nhạc, lời ca, tâm tình của bài hát rất cảm động này. Ở bài Quê Hương Là Người Đó, cô và Phạm Thành duet thật hài hòa và ăn ý. Cô Mai Hương có nhân dáng bé nhỏ xinh xắn, ở bài đơn ca Xuân Tha Hương cô mặc bộ áo dài xanh tím nhạt của hoa cẩm tú cầu, thật nhẹ nhàng và dịu mát.



+Phạm Hà và Mộng Dưới Hoa, phải nói đây là một giọng ca gợi cảm và đầy ma lực xem và nghe anh diễn tả bài nhạc phải nói là đê mê. Anh cũng có một nhân dáng lôi cuốn … và trông có vẻ tếu. Anh là thành viên trong ban hợp ca Hy Vọng của chương trình.



+Lệ Thu, cô xuất hiện với chiếc áo dài màu cam lấp lánh ánh bạc, thần thái nhẹ nhàng. Phải nói giọng ca của cô thật vạm vỡ … từng câu hát hay cách lấy hơi đều nghệ thuật và có sự tính toán kỹ càng …nhưng trên hết cô diễn tả thật đam mê và chất ngất. Cô diễn tả hai bài Đợi Chờ và Nửa Hồn Thương Đau thật mê ly, xem cô hát khán thính giả như bị điểm huyệt, chăm chú và nín thở … vì cô hát quá hay ! Ở bài sau cô mặc chiếc áo dài đã trình diễn Giấc Mơ Hồi Hương trên Sân khấu ASIA năm 2000, màu xanh dương với những lá tre bạc, lần này thật phù hợp với màu xanh blue của ánh đèn sân khấu và Nửa Hồn Thương Đau.



+ Trần Thái Hòa, với Dạ Tâm Khúc và Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn bao giờ cũng đem lại cảm giác thỏa mãn cho những người hâm mộ anh. Lần này, gương mặt anh có vẻ không ăn ánh đèn lắm, nhưng bộ complete với red tie trông anh thật lịch lãm vừa vặn. Ở Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn, nếu cuối bài hát anh ngân thêm vài notes thì sự diễn tả sẽ tròn trịa hơn.



+ Lê Uyên: đây là một bất ngờ lớn vì cô diễn tả Mắt Buồn và Xóm Đêm thật xuất thần và đầy tự sự theo đúng phong cách Lê Uyên ! … nền nhạc chỉ có piano và flute … không khí lắng đọng, nghe Lê Uyên hát tưởng chừng như cô đang tâm tình thủ thỉ với khán thính giả …cô mặc chiếc áo dài màu xanh cốm với chiếc kiềng xanh rêu to bản khi hát bài Xóm Đêm thật nhã đạm và đẹp mắt.



+ Bích Liên với Lá Thư Người Chiến Sĩ thật hào hứng và duyên dáng gợi nhớ đến sự diễn tả của Khánh Ngọc cũng với bài hát này trong những năm ’50 qua miêu tả của nhà văn Hồ Trường An. Bích Liên hát thật thoải mái và dễ thương, tuy nhiên giọng cô hơi nghẹt một tí xíu. Lần này cô xuất hiện với chiếc áo dài hở cổ màu xanh bạc thật nổi, làm liên tưởng đến màu xanh trên thân vảy cá bảy màu. Kiểu đầu hơi phồng và gần ngang vai làm gương mặt hơi nhỏ của cô trông đẹp hơn các lần xuất hiện trước đây của cô ở các buổi hòa nhạc Ngàn Khơi.



+PĐC Document: với giọng đọc truyền cảm của Phạm Long, ở đây chúng ta được xem trích đoạn chuyến lưu diễn của Hoài Bắc, Hoài Trung, Mai Hương, Kim Tước, và Quỳnh Giao ở Âu Châu giữa những năm 80. Đặc biệt khán giả sẽ được nghe lại giai điệu rộn ràng và dễ thương …tính tang tính tình …của bài Đất Lành, được nhạc sĩ sáng tác để chào đón người dân di cư vào Nam trong những năm 50.



+Anh Dũng và Đêm Cuối Cùng, Người Đi Qua Đời Tôi...nói chung là anh ca diễn trọn vẹn...nhưng đôi khi gây cho khán giả cảm giác hơi mệt mỏi vì anh diễn nhiều quá với chất giọng trời cho...có lẽ từ sau thành công rực rỡ với sự sáng tạo tuyệt vời Còn Chút Gì Để Nhớ trong Chương trình Chúng Ta Đi Mang Theo Quê Hương mà Thúy Nga thực hiện cách đây hơn 5 năm...anh đã "tận dụng" khả năng này nhiều quá...nếu anh ca đơn giản thì có lẽ hai bài hát trên khán giả sẽ thưởng thức thoải mái hơn...



+Bảo Châu với Mười Thương, màn trình diễn của cô gái này rất sáng và duyên dáng làm cho chương trình trở nên rạng rỡ hơn với sự có mặt của cô...tuy nhiên có một điểm mà không thể làm cho cô trở thành high light được là cô phát âm tiếng Việt không được chuẩn...nên nghe hơi tiêng tiếc cho các ưu điểm khác mà cô sẵn có...

(Bánh Cam-forum Phố Xưa)



Ðêm, Nhớ Trăng Sài Gòn

Vương Trùng Dương






Sau ba năm lưu lạc nơi xứ người, bài thơ Ðêm, Nhớ Trăng Sài Gòn của nhà thơ Du Tử Lê sáng tác năm 1978, mang nỗi buồn xót xa của kẻ mất quê hương, nhớ lại hình ảnh xa xưa với bao kỷ niệm đã in sâu trông tâm khảm. Sau giờ tan sở ca hai ở hãng Rockwell International tại Costa Mesa, lái chiếc xe cà rịch cà tang trên đường về nhà giữa đêm trăng thanh gió mát cùng nỗi buồn thê lương nơi đất lạ quê người, thay vì buông tiếng thở dài, nhâm nhi dòng suy tưởng trong ý thơ hiện về “theo bánh xe lăn”. Và, đêm nhớ trăng sài gòn. mà

“đêm về theo vết xe, lăn

tôi trăng viễn xứ hồn thanh niên, vàng

tìm tôi đèn thắp hai hàng

lạc nhau cuối phố sương quàng cổ cây

ngỡ hồn tu xứ mưa bay

tôi chiêng trống gọi mỗi ngày mỗi xa

đêm về theo bánh xe, qua

nhớ tôi Xa Lộ; nhớ nhà Hàng Xanh

nhớ em kim chỉ khứu tình

trưa ngoan lớp học chiều lành khóm tre

nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè

nắng Trương Minh Giảng. lá hè Tự Do

nhớ nghĩa trang: quê bạn bè

nhớ pho tượng lính buồn se bụi đường

đêm về theo vết xe, lăn

tôi trăng viễn xứ, sầu em bến nào?”.


Năm 1979, nhạc sĩ Phạm Ðình Chương vượt biển, năm 1981 định cư tại Hoa Kỳ. Tình cờ bắt gặp bài thơ Ðêm, Nhớ Trăng Sài Gòn trên trang báo, ông biến ngôn ngữ trong thi ca vào cung bậc và ca khúc mang tựa đề bài thơ trở thành ca khúc tuyệt vời. Khởi đầu với tiếng hát Lệ Thu, trong thời điểm đó, mịt mù xa cách, ngậm ngùi với thân phận cho hồn quyện vào giai điệu và lời ca. Và, theo dòng thời gian, nơi nắng ấm Cali, tiếng hát Thái Thanh, Quỳnh Giao, Tuấn Ngọc, Ý Lan, Vũ Khanh, Trần Thái Hòa, Lê Hồng Quang... đưa ca khúc vào tâm hồn người thưởng ngoạn trên mọi miền đất nước.

Phạm Ðình Chương là một trong những nhạc sĩ tài hoa phổ thơ, để lại cho đời nhiều tình khúc quen thuộc, bất tử. Tuyển tập Mộng Dưới Hoa gồm 20 Bài Thơ Phổ Nhạc của Phạm Ðình Chương do trưởng nam của ông, ca sĩ Phạm Thành ấn hành tại Hoa Kỳ năm 1985.

Khởi đầu với ca khúc Mộng Dưới Hoa - thơ Ðinh Hùng, từ năm 1957. Và, từ đó với Màu Kỷ Niệm - thơ Nguyên Sa, Nửa Hồn Thương Ðau, Dạ Tâm Khúc, Bài Ngợi Ca Tình Yêu - thơ Thanh Tâm Tuyền, Người Ði Qua Ðời Tôi - thơ Trần Dạ Từ, Ðôi Mắt Người Sơn Tây - thơ Quang Dũng, Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội - lời Hoàng Anh Tuấn... Với dòng thơ của Thanh Tâm Tuyền, ca khúc Ðêm Màu Hồng còn mang tên phòng trà nổi tiếng tại Sài Gòn vào năm 1967, hằng đêm, được mở đầu và kết thúc chương trình. Bóng dáng ca sĩ Hoài Bắc (Phạm Ðình Chương) vừa nghệ sĩ, vừa phong trần, trong ánh đèn màu, trong men nồng, cất tiếng hát trầm ấm... thu hút người thưởng ngoạn lạc vào nơi chốn xa xăm.

Cuộc tao ngộ giữa thơ và nhạc với Du Tử Lê và Phạm Ðình Chương như định mệnh. Ca khúc đầu tay khi định cư tại Cali với Ðêm Nhớ Trăng Sài Gòn và ca khúc cuối cùng với Quê Hương Là Người Ðó cho đến ngày từ trần vào tháng Tám năm 1991.

Bài thơ Ðêm Nhớ Trăng Sài Gòn được ấn hành trong Thơ Tình Du Tử Lê là tập thơ đầu tay ở hải ngoại trong năm 1984, và cũng là thi phẩm thứ sáu. Kể từ năm 1957 đến nay, tròn nửa thế kỷ, Du Tử Lê cho ra đời khoảng mười lăm tập thơ. Nhiều bài thơ đã được các nhạc sĩ Anh Bằng, Phạm Duy, Từ Công Phụng, Trần Duy Ðức, Phan Ni Tấn, Ðăng Khánh, Ngọc Trọng, Hoàng Thanh Tâm, Lê Văn Thành, Phan Nguyên Anh, Hoàng Ðình Bình, Nguyên Ngọc... phổ nhạc. Và, nhiều bài viết nói về tác giả, tác phẩm của Du Tử Lê ở hải ngoại vì vậy chỉ đề cập về bài thơ qua dòng nhạc của Phạm Ðình Chương.

Năm 1971, Phạm Ðình Chương phổ thơ Du Tử Lê với ca khúc Khi Cuộc Tình Ðã Chết và đúng 10 năm sau, nhạc sĩ bắt gặp dòng thơ mang cùng tâm trạng với nhau để dệt thành ca khúc. Du Tử Lê cho biết, là nhạc sĩ tài hoa với tài nghệ phổ thơ nhưng bài thơ Ðêm Nhớ Trăng Sài Gòn nằm trên chiếc dương cầm những sáu tháng. Bài thơ theo thể lục bát nên muốn phá thể cái âm điệu đó để chuyển sang giai điệu khác nên “dây dưa” như vậy. Nhà văn Mai Thảo thấy vậy, nói, vất mẹ nó đi, Phạm Ðình Chương đáp, biết mẹ gì về âm nhạc mà nói. Và, sau đó, đứa con được chào đời.

Mai Thảo, Hoài Bắc Phạm Đình Chương, Vũ Khắc Khoan
Tác giả giữ được hồn và câu thơ cho ca khúc. Chỉ có vài lời được biến đổi để phù hợp với cung bậc.

Câu thơ “đêm về theo vết xe, lăn - tôi trăng viễn xứ, sầu em bến nào?” chuyển thành “Ðời tan, tan nát chiêm bao...”. Câu thơ “nhớ nghĩa trang: quê bạn bè - nhớ pho tượng lính buồn se bụi đường” được chuyển thành “Nhớ nghĩa trang xưa, quê hương bạn bè...”. Với bài thơ lục bát nầy, có nhạc trong thơ, nhưng nhạc sĩ biến âm điệu thăng hoa, bay bổng theo từng cung bậc để thơ và nhạc “xe tơ kết tóc”.

Nỗi nhớ trong thơ và nhạc của Du Tử Lê và Phạm Ðình Chương, có lẽ, trong giây phút nào đó nơi chốn nầy, cũng là tâm trạng của nhiều người.

*
Nắng ấm Cali, đất lành chim đậu... nghe thật dễ thương, quyến rũ như thôi thúc con người ly hương. Hơn một nghìn năm về trước, hình ảnh mà nhà thơ Hạ Tri Chương bày tỏ khi “nắng hạ gặp mưa rào, đất khách gặp người quen” luôn luôn ám ảnh trong lòng mọi người. Với đấng mày râu, hai câu thơ của ông “Mạc mạn sầu cô tửu, nang trung tự hữu tiền” trong bài thơ thất ngôn tứ tuyệt Hồi Hương Ngẫu Hứng quá chí lý, tội gì ngồi nhâm nhi đơn chiếc, có chút đỉnh tìm bạn cùng vui, không còn gì bằng vùng đất nầy. Thế rồi, ngày qua ngày, đất lành biến thành dữ, mất tên Sài Gòn rộng lớn ở quê hương, tạo dựng tiểu Sài Gòn nơi đất khách. Và, không biết ai đặt cho hỗn danh “chốn gió tanh mưa máu” nghe mà ớn lạnh.

Ai đã quen với một thời bom đạn, ai đã từng cam chịu cảnh nghiệt ngã tang thương, quằn quại dưới ách thống trị của chế độ độc tài, đảng trị thì dưới bầu trời tự do, sá gì với cái hỗn danh đó mà ngao ngán? Nếu cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm ngày trước có mỉa mai cũng đành cam chịu vì đã “đi một đàng, học một sàng khôn” rồi thì làm người khôn luôn để “ở chốn xao xao” cho khỏi cảm thấy cô đơn trống vắng khi “lạc nhau cuối phố sương quàng cổ cây”, không làm thơ mà làm thinh thì buồn đứt ruột.

Sinh hoạt ở Sài Gòn ồn ào, xô bồ cả ngày lẫn đêm. Ở tiểu Sài Gòn nầy lại khác. Khi màn đêm buông xuống mang theo sinh khí sôi động, náo nhiệt chìm dần vào bóng đêm. Ðêm rằm tháng Bảy, cùng Du Tử Lê, Hoàng Sỹ, ngồi nhâm nhi ly cà phê ở quán Zen Vegetarian, còn gọi Café de Paris trên đại lộ Bolsa, tiểu Sài Gòn.



Nhìn vầng trăng tròn, nghe ca khúc Ðêm Nhớ Trăng Sài Gòn, bỗng nhớ lại ngày tiễn biệt nhạc sĩ Phạm Ðình Chương về cõi xa xăm cách đây 16 năm.

Ban ngày oi bức, buổi tối trăng thanh gió mát, ngồi dưới mái hiên phì phà điếu thuốc, trò chuyện cùng bằng hữu, nghe nhạc, ngắm trăng, tìm lại hình ảnh xa xưa.

Quán được nằm ở vị trí góc đường Bolsa và Dillow, bên ngoài, dưới vòm mái cong bao phủ được trang trí những chậu cây kiểng bên cạnh những bộ bàn ghế nằm dọc hàng rào sắt trông thật nên thơ. Trên vách tường bên trong được trình bày những bức tranh nghệ thuật. Theo ý chủ nhân, thỉnh thoảng tổ chức buổi triển lãm tranh và những tác phẩm nầy được lưu giữ trên tường để giới thiệu khách thưởng ngoạn và muốn chọn bức nào đem về trang trí trong nhà thì liên lạc trực tiếp với tác giả. Tạo được bầu không khí ấm cúng, khung cảnh nên thơ với nhạc với tranh cho khách, thân hữu và bản thân... nơi xứ người cũng vui vui.

Du Tử Lê trầm ngâm như ôn lại hình ảnh ba thập niên về trước. Anh tâm sự, lúc đó, không bao giờ nghĩ sẽ có ngày trong khung cảnh như vậy cùng bằng hữu. Bao nhiêu thay đổi, kẻ mất người còn, cón mang hơi thở, còn sống với kỷ niệm. Và, Sài Gòn hình ảnh của Sài Gòn năm xưa vẫn là Sài Gòn muôn thuở.

Sau ngày nhạc sĩ Phạm Ðình Chương vĩnh viễn ra đi, tập thi phẩm Ði Với Về Cùng Một Nghĩa Như Nhau của Du Tử Lê, bài “thơ ở phạm đình chương”, như lời tâm sự:

“có dễ chưa một thời đại nào

lại mang nhiều hạt mầm

hoan lạc

và khổ đau

như thời đại chúng ta...

... sách vở chẳng bao giờ tìm được

tung tích đại bàng

cất cánh về hư vô

chói lọi...

... đã thuộc về ngoại sử

sự mất tích của Hoài Bắc.

như dấu chấm hết

nơi cuối những nhạc phẩm Phạm Ðình Chương

một ngày trong tháng tám”.

Với, Ðêm Nhớ Trăng Sài Gòn. Với mối lương duyên giữa thơ và nhạc, người về cõi mây trời, người còn lại nơi dương thế, và, một ngày nào đó chỉ còn lại hồn thơ nét nhạc lưu lại trần gian.

Vương Trùng Dương

Image

Image



Đăng nhận xét