Hiển thị các bài đăng có nhãn nhc_xa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nhc_xa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 7 tháng 8, 2008

Phạm Anh Dũng-Giữa hai bờ thực-ảo!

Nhạc sĩ Phạm Anh Dũng sinh quán tại Duyên Hà, Thái Bình, hiện là Bác sĩ Y Khoa gia đình, đang hành nghề tại thành phố Santa Maria thuộc tiểu bang California. Là một tên tuổi quen thuộc trong làng nhạc Việt ở hải ngoại, qua các tác phẩm đã được phổ biến và qua các bài viết giới thiệu của giới văn nghệ sĩ ký giả trên các báo chí, và qua các CD’s Tình ca Phạm Anh Dũng đã phát hành trong thời gian gần đây. Trên Nguyệt san Dân Chúng (số tháng 6-1992), nhà thơ Nguyên Sa đã nhận định: "Phạm Anh Dũng hội tụ được cả yếu tố âm thanh, phối âm, hòa âm, nhạc khúc, lời ca và cảm xúc, tình tự của giọng ca".
Image
Image
Anh đã xuất bản tập nhạc đầu tay trong năm 1991, với tựa đề Tình Khúc Hồi Hương, gồm 12 ca khúc đặc sắc, trong đó có 6 nhạc bản phổ từ thơ của các thi sĩ trong gia đình Y Khoa như Đinh Tuấn, Phạm Thế Trường... Hình bìa và phụ bản của họa sĩ Mùi Quý Bồng, với lời đề tựa giới thiệu của nhạc sĩ Phạm Duy, đặc biệt là với phần soạn hòa âm cho tây ban cầm của nhạc sĩ Duy Cường.

Nhạc sĩ Phạm Duy trong bài viết "Cảm Tưởng Của Phạm Duy Khi Nghe 12 Tình Khúc Phạm Anh Dũng", tại Thị Trấn Giữa Đàng, đã ghi lời cảm nhận về giòng nhạc Phạm Anh Dũng qua CD Tình Khúc Hồi Hương: "12 tình khúc của Phạm Anh Dũng, phần nhiều là thơ phổ nhạc, ra đời vào đầu thập niên 90 này, cho tôi cảm tưởng có sự quay về với nhạc tính lãng mạn quý báu sau đúng nửa thế kỷ lạc loài".

Giòng nhạc Phạm Anh Dũng, là của thi ca bốn mùa, của tháng bảy chưa mưa, của gió hè hoàng hôn, của cung đàn đêm thâu, của tiếng gọi thu mơ, của nắng xuân xưa, của mưa đông lạnh, của hư ảo trăng, của sông ngọc… trong CD đầu tay "Đưa Người Về Phương Đông", với phần hòa âm và phối khí của nhạc sĩ Duy Cường, qua các tiếng hát của các ca sĩ tên tuổi ở hải ngoại như Duy Trác, Mai Hương, Tuấn Ngọc, Lệ Thu, Thái Hiền, Quỳnh Giao... Nhà thơ Du Tử Lê, trong một bài viết đăng trên Tạp chí Văn Nghệ (số tháng 6-1993) đã cảm nhận về CD đầu tay của Phạm Anh Dũng: "Hơn ai hết, họ Phạm không chỉ trân trọng với tác phẩm của mình mà ông còn trân trọng với thi ca, với những tiếng hát mà ông cho rằng, nếu không có, cuộc đời ta sẽ buồn tẻ bao nhiêu!".
http://images.huyvespa.multiply.com/image/1/photos/upload/orig/SdeeZwoKCEsAAAjwTAU1408/4.jpeg?et=ohj5EtxUvWgJv0LYvQ8g4g&nmid=0

Viết nhạc, phổ thơ vào nhạc, đối với anh, là cái đam mê yêu thích nhất mà anh đã miệt mài trong suốt một thập niên qua. Những tác phẩm đầu tay của anh đã được trân trọng giới thiệu đến giới yêu âm nhạc Việt qua 4 CD’s đã trình làng – CD Đưa Người Về Phương Đông, với 12 sáng tác lời của anh và từ thơ của các thi sĩ Nguyên Sa, Du Tử Lê, Y Dịch, Bích Huyền, Cung Vũ – CD Tình Khúc Hồi Hương, với 12 sáng tác đầu tay của anh, phổ từ thơ của nhiều thi sĩ hải ngoại, qua tiếng hát của chính anh – CD Tình Bỗng Khói Sương, với các tình khúc đặc sắc phổ từ thơ của thi sĩ Phạm Ngọc. Và gần đây nhất, anh vừa cho phát hành CD mới nhất, chủ đề Quên, gồm 12 tình khúc phổ từ thơ của thi sĩ Vương Ngọc Long, với các tiếng hát của Bảo Yến, Quang Minh, Nhã Phương, Hạnh Nguyên, Đoan Trang, Tấn Đạt, với phần hòa âm và phối khí của nhạc sĩ Quốc Dũng, trong đó có 5 nhạc bản Quỳnh Ca.
http://images.huyvespa.multiply.com/image/1/photos/upload/orig/SdeeZwoKCEsAAAjwTAU1410/5.jpeg?et=QUHsDazDFAlHdpp1XANpfw&nmid=0




Trong suốt hơn một thập niên vừa qua, anh đã cho ra đời trên 200 ca khúc về tình yêu và quê hương, với nhạc và lời của chính anh, với nhiều nhạc khúc rất đặc sắc phổ từ thơ của các thi sĩ tên tuổi và tài tử quen biết trong giới văn nghệ báo chí và trên mạng lưới. Nếu nói, Trịnh Công Sơn với nhạc về thân phận con người, Ngô Thụy Miên với ngữ tình ca và mùa thu yêu đương, Vũ Thành An với những bài Không Tên bất hủ, Võ Tá Hân với giòng nhạc quê hương rất Huế, thì Phạm Anh Dũng là miền thi ca của bốn mùa, và đặc biệt ở Phạm Anh Dũng, là những tác phẩm rất độc đáo và rất riêng trong nét tình "thi mộng" mà anh đã viết về Hoa Quỳnh, là "nhạc Quỳnh" của chỉ ở riêng Phạm Anh Dũng, là những tình ca rất thi vị, của quyện hương yêu nồng nàn, của hư ảo ngất ngây đêm, của trùng trùng lệ ngấn mi em, của luyến thương chan hòa đê mê, của "Quỳnh Em ơi ở mãi trong Anh"… được phổ từ thơ của các thi sĩ Vương Ngọc Long, Hoàng Ngọc Quỳnh Giao, Phạm Ngọc… qua các nhạc bản Dạ Quỳnh Hương, Quỳnh Lệ, Quỳnh Lan, Quỳnh Thi, Đêm Nguyệt Quỳnh… với các tiếng hát của các ca sĩ nổi tiếng trình bày.

Thi ca bốn mùa trong giòng nhạc Phạm Anh Dũng, là những "cung điệu tình xuân" dịu êm từ giọt nắng vàng xa xưa nơi quê nhà, là âm vang của tiếng gọi mùa thu mơ mộng, là dạo khúc tự tình của mùa hè sang, là mưa rơi trên cung đàn đêm đông… Trong đó, nhạc bản "Đêm Đông Lạnh Trời Mưa Xuống", của ngàn lá rụng trong mưa, của gió lạnh căm căm về, của từng phím nhạc reo buồn, từ CD Đưa Người Về Phương Đông, có thể nói, là một trong những tác phẩm tuyệt vời nhất trong giòng nhạc Phạm Anh Dũng. Với âm điệu nhẹ lướt như hoa tuyết rơi trong đêm, với réo rắc lâng lâng của mưa nhòa trên lá khuya, với nhịp ru êm dìu dặt của dương cầm lẻ loi, của "ai đàn trong gió", với "âm điệu buồn xóa nhòa vần thơ", để ngơ ngẩn "rũ tóc buồn" đan kín đôi vai, của "con thuyền không bến" và "tiếng hát lênh đênh" trên sóng tình trên biển đời... Âm vang như vẫn còn reo mãi dư điệu buồn trong tim hồn người thưởng thức. Một tác phẩm tuyệt vời, giá trị, về cung điệu, về ca từ, với tiếng hát ru người của nữ ca sĩ Thiên Phượng. Từng giọt du dương rơi trên cung đàn, của lệ đêm, của mưa đông, của vạt sóng tình sầu, của tóc buồn phủ kín vai… như vẫn còn thầm thì nhỏ hạt trong tâm tư đời… trong trái tim người… của cái ngậm ngùi đầy thi vị từ cơn mộng đã chìm vào mưa… từ gió đông sương mù viễn xứ… từ cuối trời phiêu lãng quạnh hiu… từ dư âm về của những cuộc tình vỡ lỡ xa xưa thuở nào…
Image
Image


Thứ Sáu, 25 tháng 7, 2008

TUẤN KHANH-"Hoa soan bên thềm cũ"

Image
Image


DOWNLOAD


Tuấn Khanh-Những tình khúc thiết nha nhưng dịu dàng










Tôi không nhớ chính xác từ năm nào tôi đã yêu đến thế, bài Chiếc Lá Cuối Cùng do nhạc sĩ Tuấn Khanh sáng tác. Tôi chỉ có thể mang máng, hình như thời gian đó Lệ Thu đang đạt tới vị trí tột đỉnh trong nghề ca hát của cô. Thời gian đó ở Sài-gòn, cả hai phòng trà Ritz (đường Trần Hưng Đạo) và Tự Do (đường Tự Do) đều muốn Lệ Thu ký giao kèo độc quyền với mình, đến nỗi Lệ Thu bị ông Nguyễn Văn Cường chủ nhân phòng trà Tự Do kiện vì chuyện giao kèo. Như vô số thính giả khác, tôi rất say mê tiếng hát Lệ Thu, qua Nửa Hồn Thương Đau (nhạc phẩm của Phạm Đình Chương), qua Ngậm Ngùi (Phạm Duy sáng tác),... và dĩ nhiên qua Chiếc Lá Cuối Cùng. Từ chỗ say mê tiếng hát, tôi chìm đắm trong bài hát. Lúc đó tôi chỉ vừa mới lớn, chưa tiễn ai thì làm sao có cảm giác "chiều vào thu tiễn em sầu lạnh giá" như thế nào. Tôi chưa xa ai nên làm sao biết "xa nhau chưa, mà lòng nghe quạnh vắng" ra sao. Tôi cũng chưa biết nhấp rượu, nên không rõ "rượu cạn ly uống say, lòng còn giá" đến mức nào. Thế nhưng sự xúc động sâu lắng vẫn ngấm vào tôi qua những tiếng thở dài trong ca khúc Chiếc Lá Cuối Cùng:







“Đêm qua chưa, mà trời sao vội sáng? Một đàn chim cánh nhỏ chở mùa sang. Chiều vào thu tiễn em sầu lạnh giá. Lá trên cành từng chiếc cuốn bay xa... Xa nhau chưa, mà lòng nghe quạnh vắng? Đường thênh thang gió lộng một mình ta. Rượu cạn ly uống say lòng còn giá. Lá trên cành một chiếc cuối bay xa..."







Có lẽ, óc tưởng tượng "hơi sớm" của cậu thanh niên ham thích văn chương - là tôi lúc đó - giúp tôi sớm cảm nhận những dòng nhạc Tuấn Khanh đã viết.



Từ chỗ cảm nhận ấy, khi gặp nhạc sĩ Tuấn Khanh mùa hè năm 2001, tôi đã trình bày với ông sự nhận xét của tôi về Chiếc Lá Cuối Cùng. Đó phải là một mối tình rất lớn, nỗi buồn đó phải in sâu lắm, niềm nhớ nhung đó phải day dứt khôn nguôi, ông mới "có thể viết nổi" bài Chiếc Lá Cuối Cùng hay đến như vậy, nhiều cảm xúc đến như vậy. Nghe tôi nói xong, nhạc sĩ Tuấn Khanh gật đầu, công nhận điều đó đúng.







Đối với riêng tôi, Chiếc Lá Cuối Cùng là tình khúc day dứt nhất so với những bản tình ca khác của nhạc sĩ Tuấn Khanh. Day dứt nhất, vì suốt dòng nhạc Tuấn Khanh mà tôi được biết, chỉ trong bài Chiếc Lá Cuối Cùng mới có hình tượng một chàng trai buồn tình, uống say để mong quên sầu, nhưng men rượu không sưởi ấm nổi cõi lòng lạnh giá; để rồi chợt tỉnh ra, bàng hoàng tự hỏi không biết đêm đã qua hay chưa, không biết người tình đã xa rồi hay chưa. Chiếc Lá Cuối Cùng day dứt nhất, vì dòng nhạc tình Tuấn Khanh nói chung, tha thiết lắm nhưng vẫn dịu dàng, chừng mực, như một chàng trai mới lớn, vẫn còn rụt rè trong yêu đương chứ chưa dám tận hưởng một cách trọn vẹn, phóng túng.







"Một hôm bước lần theo lối cũ tôi về, thầm mơ giàn hoa tím xưa chưa phai. Đời tôi đã nhiều lần gió lùa xao xuyến tim đơn chiếc thân. Lòng tôi vẫn còn ghi mãi phút êm đềm, thềm hoa chia tay lúc trăng đang lên. Hẹn tôi đến một mùa sẽ thắm duyên lành, ngắt bông hoa tím trên cành trao anh... Chiều nay dưới giàn hoa thơm ngát êm đềm, vầng trăng thu soi mắt em long lanh. Hỏi tôi những chiều buồn mây tím xây thành, có thương hoa thắm mong chờ không anh? (Dưới Giàn Hoa Cũ)







"Khi nắng nhẹ vương trên lưng đồi. Xa vắng miền quê bao năm rồi, về gặp em ngây thơ duyên dáng, hôm xưa tiễn anh nơi cuối làng... Em nhé mình thương nhau muôn đời. Anh giữ gìn biên cương xa vời. Đừng buồn khi xa nhau anh nhé! Thăm em đôi ngày rồi anh đi”. (Hoa Soan Bên Thềm Cũ)







Rồi đây anh đưa em về nơi vui ấm êm, trăng soi đầy thềm. Nhìn nhau khẽ nói câu thời gian trôi qua mau, không phai lạt đâu... Chiều nay nghe chơi vơi, nhìn chiếc lá sắp rơi, mưa giăng đầy trời. Ngời sáng khóe mắt em, mừng vui nghe qua đêm. Thôi đừng gọi tên”. (Một Chiều Đông)







"Tại mình còn yêu. Tại mình còn thương đôi mắt lạ thường, say đắm thẹn thùng e ấp ngại ngùng. Ngày ấy yêu nhau. Giờ khóc xa nhau. Nghe lòng bão tố, thiết tha hay nhạt phai?" (Nhạt Nhòa)



Image



Image
( Cd mới vừa phát hành gồm 9 bài hát được phổ biến của NS.TUẤN KHANH tại VN)
Tôi tin là sự dịu dàng, chừng mực ấy trong nhạc tình Tuấn Khanh là điều tất nhiên, bởi thế hệ ông lúc đó còn bị nhiều ràng buộc bởi xã hội khắt khe. Ông sinh ra trước thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Nghe kỹ lời nhạc ông viết, người nghe sẽ nhận ra trong đó mang nhiều thi tính, nói cho dễ hiểu là chất thơ và đó là loại thơ tiền chiến như chính nhạc của ông được xếp vào dòng nhạc tiền chiến. Điều này tôi không lấy làm lạ, bởi thế hệ ông lớn lên, rất gần gũi những dòng nhạc những bài thơ tiền chiến thời ấy.







Vì chất thơ trong nhạc nên lời nhạc bóng bẩy, dễ bị hát sai ở một vài chữ, trong một vài câu (và nghĩ cho cùng, không riêng gì nhạc Tuấn Khanh, mà nhạc của một số tác giả khác cũng bị "sửa" chữ) do sự sơ ý của người hát: "Như hương hoa soan dâng bên thềm (dịu dàng nhưng ngát say)" đã bị hát sai, thành ra "như hương hoa soan vang bên thềm..." Trường hợp tương tự như vậy cũng xảy ra với bài Chiếc Lá Cuối Cùng. Chính nhạc sĩ Tuấn Khanh là tác giả nhạc phẩm ấy cũng phải công nhận là tôi tinh ý, khi tôi đưa ra nhận xét rằng người ta hát sai, thay vì "đêm qua chưa (mà trời sao vội sáng)" thì họ lại hát là "đêm chưa qua".







Điều ấy, sau này nhạc sĩ Tuấn Khanh đã mang ra trình bày cùng khán thính giả Paris by Night trong chương trình thu hình Đêm Văn Nghệ Thính Phòng.



Image



Dòng nhạc Tuấn Khanh nói chung, còn nét đặc biệt nữa là thường đề cập đến hoa. Và nếu không hoa thì lá. Điển hình là trong những bài Hoa Soan Bên Thềm Cũ, Dưới Giàn Hoa Cũ, Chiếc Lá Cuối Cùng, Một Chiều Đông (như đã trích ở phần trên), cũng như những bài khác nữa:







Hôm nay bạn đi gót chân theo nhịp dạ hành. Tuổi đời vừa xinh như nụ hoa nở thêm cánh...” (Hai Kỷ Niệm Một Chuyến Đi)







"Hoa nào mà không phôi pha sắc hương. Ân tình nào mà không gây vấn vương. Lê đôi gót đi khắp chốn ngàn phương để tìm hương..." (Quán Nửa Khuya)







"Nhớ em gọi tên, chỉ nghe lá rơi bên thềm. Nhiều đêm thầm mơ những phút êm đềm..." (Nhớ Nhau)







"Thương em bé nhỏ, nụ hoa chớm nở. Tình buồn như áng mây bay..." (Chiều Lá Đổ)















Nhân câu chuyện Chiếc Lá Cuối Cùng, tháng 2-2002 vừa qua tôi đã gợi chuyện, hỏi nhạc sĩ Tuấn Khanh về đời sáng tác của ông và được biết như sau:







Tuấn Khanh: Trước Chiếc Lá Cuối Cùng, tên tuổi Tuấn Khanh đã được biết qua các sáng tác như Quán Nửa Khuya, Chiều Biên Khu, Hoa Soan Bên Thềm Cũ... Riêng bài Chiếc Lá Cuối Cùng, theo cuốn Danh Mục Nhạc Việt in ở hải ngoại thì đó là bài đã được nhiều người hát, được nhiều trung tâm thu băng nhất, ngay cả so với những bài của những tác giả nổi tiếng khác.







Nguyên Nghĩa: Ngoài bút hiệu Tuấn Khanh, được biết anh còn nhiều bút hiệu khác nữa...







TK: Ngoài Tuấn Khanh, anh còn ký tên Hoàng Mộng Ngân, Mạnh Đạt, Ngọc Dũng... Thí dụ như bài này, Chuyện Người Lính Chiến Cô Đơn, ghi là ý thơ Mạnh Đạt, nhạc Châu Ngân & Ngọc Dũng. Đúng ra Châu Ngân là người bạn quen từng sáng tác chung với Tuấn Khanh một hai bản, nhưng riêng bài này thì của Tuấn Khanh từ đầu đến cuối.







NN: Khi dùng nhiều bút hiệu như vậy, anh có chủ đích là chỉ ký Tuấn Khanh cho riêng một loại nhạc nào đó, còn những bút hiệu khác dành cho loại nhạc thứ nhì, thứ ba, thứ tư... chăng?







TK: Ngày xưa thì anh làm như thế nhưng bây giờ chỉ còn có một bút hiệu Tuấn Khanh thôi.



Từ xưa đến giờ người ta biết đến Tuấn Khanh qua Hoa Soan Bên Thềm Cũ, Chiếc Lá Cuối Cùng, Chiều Biên Khu, Quán Nửa Khuya, Nỗi Niềm, Nhạt Nhòa, Hai Kỷ Niệm Một Chuyến Đi... Thực ra Tuấn Khanh còn nhiều bản nhạc khác nữa mà người ta vẫn thường nghe, nhưng Tuấn Khanh ký tên khác. Chú có muốn anh giải bày tâm sự, lý do tại sao anh lại làm như thế không?







NN: Vâng.







TK: Lý do là vì có hai loại nhạc, một loại chọn lọc và một loại mà thiên hạ gọi là nhạc đại chúng. Tuấn Khanh đã viết được Chiếc Lá Cuối Cùng, sao lại viết "Vì lỡ thương nhau nên đôi mình đành đau khổ...", nghe "chỏi nhau" lắm. Vì thế nên phải đổi tên để viết loại nhạc đại chúng. Nhưng sau khi vượt biển, sang đến đảo anh có gặp một bà Cao Ủy Tị Nạn. Ở đảo, anh có sáng tác bài Lời Cám Ơn Sầu. Anh có nói với bà ấy rằng bài này không được đại chúng, dùng những từ ngữ hay nét nhạc hơi cao, chắc là sẽ không được quảng bá đông đảo đâu. Bà ấy mới nói với anh một câu, anh mới vỡ lẽ ra rằng từ trước đến giờ mình lầm. Bà ấy nói rằng: "Anh nên làm nhạc cho cả số đông quần chúng, cho họ nghe với. Họ cũng thích nhạc lắm. Họ chỉ nghèo không được ăn học nhiều, chứ họ có tội gì đâu."



Image



Anh mới thấy rằng, mình thật ra cũng chẳng có gì khác người, chẳng có gì "ghê gớm" cả. Chẳng qua trời cho mỗi người một năng khiếu. Trời cho mình năng khiếu làm thơ thì mình làm thơ, trời cho mình năng khiếu làm nhạc thì mình làm nhạc, trời cho người khác năng khiếu đi cày thì họ đi cày. Mình làm thế nào cho hợp với năng khiếu trời cho mình. Ý trời muốn mình làm gì thì mình nên làm cho nó công bằng. Nhạc là một món ăn tinh thần rất cần thiết cho con người, cho tất cả mọi tầng lớp chứ không riêng một tầng lớp nào cả. Nếu mình chỉ làm cái gì cho thật cao thật hay, cho một tầng lớp gọi là trí thức hiểu rộng biết nhiều, thế thì còn tầng lớp kia, mình bỏ rơi người ta à? Cái đó bất công, cái đó vô lý!







Cảm ơn nhạc sĩ Tuấn Khanh đã chia sẻ điều ấy cùng những người nghe nhạc bình thường. Ước mong một lúc nào đó, người yêu nhạc Việt sẽ được nghe thêm những nhạc phẩm khác nữa trong toàn bộ sáng tác của ông, dành cho mọi tầng lớp.







NGUYÊN NGHĨA



(tháng 6-2002)








Thứ Tư, 2 tháng 7, 2008

Huỳnh Anh- "Mưa rừng" cho riêng Thanh Nga

Lại nói đến nhạc sỹ với số lượng tác phẩm ít nhưng dấu ấn trong sinh hoạt âm nhạc của miền Nam trước 1975 không phải là nhỏ: NS.Huỳnh Anh. Ông nổi tiếng với các bài hits với nhiều thể điệu biến ảo của mình: Từ jazz trong THƯỞ ẤY CÓ EM, đến tango trong KIẾP CẦM CA, slow rock trong ĐỜI TÔI CHỈ YÊU MỘT NGƯỜI, nhạc mùi BIẾT NÓI GÌ ĐÂY, nhạc film LOAN MẮT NHUNG ( film cùng tên), SA MẠC TUỔI TRẺ ( trong ĐIỆU RU NƯỚC MẮT) ;nhạc phổ thơ: HOA TRẮNG THÔI CÀI TRÊN ÁO TÍM(Kiên Giang) RỪNG CHƯA THAY LÁ(Hoàng Ngọc Ẩn) ...được xem là 1 trong những bài nhạc phổ thơ hay nhất trong nền tân nhạc trước 75, và có lẽ cả sau này nữa..."Quý hồ tinh, bất quý hồ đa"..Có lẽ rất đúng với người nhạc sỹ tài ba này. Mời mọi người nghe câu chuyện về nhạc sỹ Huỷnh Anh, khám phá thêm 1 bí mật nho nhỏ về bài MƯA RỪNG mà chắc hẳn ai cũng đã từng nghe qua, được xem như tác phẩm để đời của Huỳnh Anh...Viết riêng cho vở cải lương cùng tên làm mưa làm gió trước 75 của đoàn THANH MINH-THANH NGA. Và cùng unveil bí mật nho nhỏ của người nhạc sỹ này với 1 người được xem như Marlyn Monroe của VN: nữ nghệ sỹ THANH NGA- dĩ nhiên không phải là so sánh sự sexy theo kiểu Tây Phương, mà là nét tương đồng của hai huyền thoại về hào quang sân khấu, về sắc đẹp và cả 2 cái chết bí ẩn vẫn chưa có lời giải đáp.Enjoy!






Vũ trường Mỹ Phụng nhìn ra bến Bạch Đằng là điểm tụ họp không những của những khách chơi đêm bản xứ, mà còn là nơi đón tiếp những khách giang hồ, những thủy thủ ngoại quốc đến trên những con tàu sau các chuyến hải hành dài lênh đênh trên đại dương hàng tháng, nay dừng chân bên bến Sài Gòn. Không khí nơi đây có những điểm đặc thù mà các vũ trường khu trung tâm thành phố như Tabarin, Đại Kim Đô, Văn Cảnh, Tour d'Ivoire hay các vũ trường ăn chơi kiểu Hồng Kông trong miệt Quận 5 Chợ Lớn như Đại Thế Giới, Arc-en-Ciel, Lệ Uyển hay hai phòng trà nhỏ ấm cúng Baccara ở Chợ Đủi và La Cigale ở DaKao không có. Đây là nơi người viết đã có dịp thưởng thức tài nghệ của ban nhạc Huỳnh Anh những năm cuối thập niên 50, nhưng phải chờ 45 năm sau, sang một thế kỷ khác, một thiên niên kỷ khác, tại một địa điểm cách xa nửa vòng trái đất, người viết mới có dịp gặp lại, nghe chính Huỳnh Anh trình diễn tại Đêm Văn Nghệ Đặc Biệt tại "Nhược Gia Trang" nhân dịp hai nhạc sĩ Nguyễn Hiền và Huỳnh Anh ghé thăm NS Lê Dinh và Nhóm Ngồi Quán Cóc tại thành phố Mộng Lệ An. Nhờ cái duyên văn nghệ này, người viết và NS Huỳnh Anh có dịp trao đổi tâm tình và kiểm chứng một vài giai thọai về người nghệ sĩ này trong cuộc đời âm nhạc. Sau những đắn đo, suy nghĩ, người viết cuối cùng chọn đề tựa như viết ở trên, mà không sợ bị hiểu lầm là bất kính với một người nghệ sĩ đàn anh lớn tuổi hơn mình, vì chỉ chữ "gã giang hồ" mới lột tả sát nhất được con người của NS Huỳnh Anh.







NS Huỳnh Anh sinh năm 1932 ở Cần Thơ, con của NS Sáu Tửng một danh thủ đờn kìm của nhạc cải lương miền Nam. Những năm thơ ấu, NS Huỳnh Anh đã được nuôi dưỡng trong không khí nghệ thuật của gia đình và trong sự thanh bình trù phú của đồng quê miền Nam, một miền Nam giàu có với những tay công tử xài tiền như nước mà điển hình là hai tay công tử Hắc Bạch (Ba Qui và Phước Georges) đốt tiền cho đời biết mình là bảnh.







Giai thoại kể lại rằng NS Hùynh Anh chưa bao giờ chính thức được theo học nhạc về bất cứ nhạc cụ nào cũng như về lý thuyết và sáng tác. Khi còn nhỏ trong một buổi tập dượt văn nghệ học đường trình diễn trước khi chia tay nhau bãi trường mùa hè, tay trống của ban nhạc hôm ấy đã bị bệnh không thể tập dợt được, ông thầy hướng dẫn văn nghệ trong lúc cấp bách không biết sao, nhưng đã để ý một chú bé đứng xem tập dợt, nhưng không phải như những người đến xem khác, chú bé để tâm theo dõi tiếng đàn, giọng hát, hai tay gõ và chân nhịp rất đúng, nên ông thầy đã kêu chú bé vào chơi trống thử, và trước sự ngạc nhiên của mọi người, chú bé chơi trống rất đúng, và như vậy chú bé trở thành tay trống chính thức cho buổi trình diễn. Chú bé đó là NS Huỳnh Anh sau này, nhưng khi đó mọi người chỉ gọi chú là Bé Ba.







Sau Thế Chiến Thứ 2, NS Huỳnh Anh chính thức bước vào con đường chơi nhạc với vai trò một tay trống trong một ban nhạc tại thành phố Đà Lạt năm 1947. Mười năm kế tới từ 1947 tới 1957, NS Huỳnh Anh lăn lộn trong con đường trình tấu, khi thì chơi trong các đoàn cải lương, khi thì chơi trong các phòng trà ca nhạc với các ban nhạc Phi Luật Tân. Các nghệ sĩ Phi Luật Tân khi xuất dương thường có trình độ trình tấu khá cao, do đó NS Huỳnh Anh với khả năng thiên phú đã học hỏi được ở họ các ngón nghề độc đáo khi chơi chung, dù không bao giờ được họ chính thức chỉ dẫn, và chẳng mấy chốc anh sử dụng thành thạo nhiều nhạc khí khác như Guitar, Piano, Kèn, Percussion v.v... cũng như kỹ thuật hòa âm sống động, vững vàng về nhịp điệu của các ban nhạc vũ trường. Năm 1957, Huỳnh Anh trở thành trưởng ban nhạc và trong 18 năm tới, anh đã có hợp đồng trình diễn với hầu hết các phòng trà ca nhạc và vũ trường của Sài Gòn cho đến năm 1975.







Đầu thập niên 50, tên tuổi của tay trống Huỳnh Anh đã lẫy lừng khắp các vũ trường Sài Gòn. Trong thời gian này Sài Gòn có hai tay trống lừng lẫy là Huỳnh Anh và Huỳnh Hiếu (hay Huỳnh Háo) và sau này có thêm tay trống nổi danh thứ ba là Phùng Trọng. Khi được hỏi và so sánh về tay nghề với tay trống Huỳnh Hiếu, NS Huỳnh Anh nói một cách thành thật: "Hồi đó mình nghèo mà, làm sao sánh được với Huỳnh Hiếu là con ông bầu gánh Tư Chơi, có tiền mướn thầy Phi Luật Tân về học". Nhưng theo tay trống Lưu Bình của ban nhạc The Wave của Montréal, trước kia đã được cả hai tay trống Huỳnh Anh và Huỳnh Hiếu chỉ dẫn, nói rằng: "Theo tôi, không thể nào so sánh tài nghệ chơi trống giữa Huỳnh Anh và Huỳnh Hiếu rồi nói rằng ai chơi hay hơn ai, vì mỗi người một sở trường. Không ai có thể qua mặt được khi Huỳnh Anh chơi trống trong ban nhạc vũ trường (combo), trong khi đó Huỳnh Hiếu rất xuất sắc trong khi chơi trống theo thể loại Big Band của các ban nhạc Jazz Mỹ như Duke Ellington, Glenn Miller, Benny Goodman".







Ngày đưa NS Huỳnh Anh ra phi trường Dorval để đón chuyến bay buổi chiều về Mỹ, chúng tôi có thì giờ đến chỗ hẹn ăn trưa để anh gặp sọan giả cải lương Nguyễn Phương, người đã viết tuồng cho đoàn Thanh Minh - Thanh Nga trong một thời gian dài. Anh gọi soạn giả Nguyễn Phương bằng chú, vì anh gọi theo Thanh Nga, thời kỳ anh thường đến đoàn hát thăm viếng nàng. Sọan giả Nguyễn Phương nhắc đến một thành tích lẫy lừng của tay trống Huỳnh Anh, mà có lẽ anh cũng không chú tâm đến nhiều vì không mấy khi nghe anh nhắc đến, đó là cuộc "đọ trống" giữa tay trống số một của Mỹ thời bấy giờ là Buddy Rich và tay trống Huỳnh Anh của Việt Nam tại rạp Hưng Đạo vào năm 1961. Sọan giả Nguyễn Phương cho đây là một biến cố quan trọng của nền âm nhạc Việt Nam, vì tay trống Buddy Rich quả thật lừng danh thế giới như người viết đã tìm tòi trong "Net" và lấy ra hình Buddy Rich để ghép chung với hình "gã giang hồ" Huỳnh Anh, tay micro, tay rượu, lãng đãng hát trong đêm Văn Nghệ tại Nhược Gia Trang để in trong bài này (hình trên).







NS Huỳnh Anh được tiếng hào hoa, tên tuổi của anh dính liền với tên tuổi của những nữ nghệ sĩ như nữ ca sĩ P. V., nữ nghệ sĩ sân khấu cải lương T. N. , người đẹp L. H., Đ. cũng như với các vũ nữ xinh đẹp của Sài Gòn ban đêm. Anh di tản cuối tháng 4/75 và cư ngụ tại Vùng Vịnh, thành phố San Francisco. Qua Mỹ, anh chạy taxi để độ nhật, nhưng anh không bao giờ không giữ đúng phong độ giang hồ, biết anh biết em, khiêm nhượng, và lúc nào cũng có ly rượu trên tay, và nụ cười hào sảng trên môi. Anh không tự kiêu những lúc lẫy lừng, nên anh cũng không tự ti trong lúc vô danh tiểu tốt. Trong hơi rượu cay, anh đã đạt tới mức "thiền" hơn nhiều người cả đời tu tập.







Nhưng tất cả những công trình trên của anh sẽ chìm vào quên lãng, và cho tới thời điểm hiện tại (năm 2004), không còn ai nhớ tới tên của anh nếu anh không đi vào con đường sáng tác. Sáng tác là đỉnh cao nhất của các bộ môn nghệ thuật trong đó bao gồm văn chương, thi ca, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, kịch nghệ, điện ảnh. NS Huỳnh Anh đã khiêm nhường tuyên bố trong đêm họp mặt tại "Nhược Gia Trang", anh rất được hân hạnh được xếp chung vào hàng ngũ những nhạc sĩ sáng tác, anh cảm thấy không thể so sánh với các nhạc sĩ có mặt hôm đó như Nguyễn Hiền, Phạm Mạnh Cương, Lê Dinh với những công trình sáng tác đồ sộ của họ, trong khi anh chỉ có hơn vỏn vẹn 20 bài nhạc mà thôi. Thật ra anh không cần phải cảm thấy như vậy, vì nhiều nhạc sĩ chỉ cần có một bài thành công là được người thưởng ngọan nhớ đời, trong số hơn 20 bài của anh, sau gần 50 năm vẫn có nhiều bài được nhớ tới. Sự thành công của anh có lẽ là do các tác phẩm đó phản ảnh được tâm tư của một thời đã qua mà không mất đi tính cảm hằng hữu của con người.



Image



Một trong những bài đầu tiên anh sang tác là bản "Em Gắng Chờ" ra đời vào cuối thập niên 50 đầu 60 đã được nữ ca sĩ Lệ Thanh hát trong đêm "Nhược Gia Trang", vì chị nhớ bài này từ thời còn đi hát ở Mỹ Phụng:







Trên bến chia ly một chiều, em tiễn đưa anh nghẹn ngào



Nhìn nhau bâng khuâng nao nao... ôi buồn sao



Xa lũy tre xanh dịu hiền, xa chốn quê hương mặn nồng



Vai súng hiên ngang hẹn cùng... người cũ...







Em gắng mong anh ngày về, thêm ánh vinh quang tràn trề



Nhìn qua quê hương thân yêu đang lầm than



Bông lúa tươi trên ruộng đồng, thanh thót tiếng ca dịu lòng



Xen với tiếng tiêu mục đồng... lướt êm...







Bài hát đầy tình cảm này thật ra là lời một người con gái giã từ người yêu, dặn dò người yêu cứ ra đi bảo vệ quê hương, em sẽ chờ, có nghĩa đây là một bài hát dân vận. Điểm này được nêu ra ở đây vì mọi người cho rằng những bài nhạc tuyên truyền thường nhàm chán, bài hát này và nhiều ca khúc khác của những tác giả miền Nam được viết ra với nhu cầu tuyên truyền, nhưng những cảm xúc chân thành của tác giả đã làm bài hát trở nên bất tử. Những năm cuối thập niên 50 sắp bước qua thập niên 60 của thế kỷ 20, người dân miền Nam được hưởng một thời gian thái bình và thịnh vượng nhất trong lịch sử ngắn ngủi nhưng ghi đậm nét trong tâm tư của mọi người. Lẽ dĩ nhiên tại thời điểm đó, không ai biết trước thời gian sắp tới sẽ có những trận chiến tàn khốc kéo dài suốt 15 năm, và sau đó khi miền Nam mất đi năm 1975 là một cuộc ra đi tìm tự do của hàng triệu người bất chấp hiểm nguy vượt thoát trên biển làm rúng động lương tâm nhân loại. Bốn mươi năm sau khi nhìn lại, không ai không nhìn nhận đó là thời gian vàng son nhất cho công cuộc phát triển những bộ môn nghệ thuật như văn chương, âm nhạc, kịch nghệ, cải lương, điện ảnh v.v...







Đề tài tan hợp của tình yêu là đề tài muôn thuở mà tác giả nào cũng đã từng viết qua, nhưng điểm đặc thù của NS Huỳnh Anh là luôn luôn mang những cơn mưa buồn vào những cuộc tình ngang trái:







Mưa buồn ơi thôi ngừng tiếng



Mưa cho phố nhỏ càng buồn thêm



Mưa rơi gác xưa thêm lạnh vắng



Phòng côi lắng tiêu điều



Đường khuya vắng dìu hiu



(Huỳnh Anh - Lạnh trọn đêm mưa)







Mưa khuya buồn lê thê



Đìu hiu giăng khắp lối về.



Còn ai đếm bước âm thầm



Tìm trong ngõ vắng cô liêu



Giữa đêm tàn lạnh giá



Mơ bóng bao ngày qua



Một ngày nên duyên mới



Duyên kiếp dễ nào pha



(Huỳnh Anh - Nếu ta đừng quen nhau)







Nhưng hai bài "mưa" dưới đây là Mưa RừngKiếp Cầm Ca, NS Huỳnh Anh đã gửi gấm tâm sự của mình rất nhiều. Giai thoại cho rằng hình bóng người đàn bà trong hai bài này chính là nữ nghệ sĩ tài sắc của sân khấu cải lương Thanh Nga:







Mưa rừng ơi! Mưa rừng!



Hạt mưa nhớ ai mưa triền miên



Phải chăng mưa buồn vì tình đời,



Mưa sầu vì lòng người, duyên kiếp không lâu.



Mưa từ đâu mưa về, làm muôn lá hoa rơi tả tơi.



Tiếng mưa, gió lạnh về lùa ngoài mành



Lá vàng rơi lìa cành, gợi ta nỗi niềm riêng







Ôi! ta mong ước xa xôi, những đêm mãi cô đơn gửi tâm tư về đâu?



Mưa thương ai, mưa nhớ ai?



Mưa rơi như nhắc nhở mưa rơi trong lòng tôi.







Mưa rừng ơi! Mưa rừng,



Tìm đâu hỡi ơi bóng ngày xưa



Mỗi khi mưa rừng về muộn màng,



Bóng chiều vàng dần tàn



Lòng thương nhớ nào nguôi.



(Huỳnh Anh - Mưa Rừng )



















Có lẽ NS Huỳnh Anh đi đâu cũng được hỏi về giai thọai này, và đêm văn nghệ ở "Nhược Gia Trang" câu hỏi này cũng được đặt ra. NS Huỳnh Anh có lẽ cảm động trước sự tiếp đón nồng nhiệt của anh em nghệ sĩ tại đây đã hé mở tâm sự anh nhiều hơn các lần khác. Tay cầm ly rượu, tay cầm micro, anh hát phiên khúc đầu của bài Kiếp Cầm Ca:







Mưa rơi cho đời thêm nhớ thương



Hạt mưa ướt vai người tha hương



Mưa rơi phố thưa vắng tiêu điều



Xóm nghèo quạnh hiu màn đêm tịch liêu



Đêm đêm đem lời ca tiếng thơ



Đời ca hát cho người mua vui



Nhưng khi cánh nhung khép im lìm



Ánh đèn lặng tắt



Gởi ai nỗi niềm







(Huỳnh Anh - Kiếp Cầm Ca)







Anh nói tiếp: "Các anh em hỏi tôi về sự liên hệ của tôi và Thanh Nga, xin lỗi các anh, chuyện đó có thật. Lần này tôi thú nhận vì cứ dấu mãi thì cũng không đi đến đâu. Nhưng bản Mưa Rừng là "bản nhạc chủ đề" trong vở tuồng đồng tên của hai sọan giả Hà Triều & Hoa Phượng đã nhờ tôi viết. Bản này đã được viết đặc biệt để giảm thiểu những sở đoản của một nghệ sĩ cải lương khi hát tân nhạc, và tôi đã dùng nhiều thời giờ để tập hát cho Thanh Nga, nên vì thế bài hát này đã gắn liền tên tuổi của tôi với người nữ nghệ sĩ khả ái này. Thưa các anh em, chuyện Thanh Nga mê tôi hay tôi mê Thanh Nga (bây giờ) chỉ có mình tôi biết thôi. Hôm nay tôi sẽ nói ra, chính bài Kiếp Cầm Ca mới là bài mà tôi đã viết cho Thanh Nga. Vì chỉ có sân khấu cải lương mới có màn nhung mà thôi. Nhưng hai câu cuối Ánh đèn lặng tắt / Gởi ai nỗi niềm thì người gởi nỗi niềm là tôi chứ không phải Thanh Nga!"















Ho Le Thu - Kiep Cam Ca



Hop Ca - LK Mua Rung-Anh Cho Em Mua Xuan-Dan Ba



Huong Thuy-Manh Quynh - Rung La Thay Chua



Minh Tuyet - Lanh Tron Dem Mua



Nguyen Hung - Sa Mac Tuoi Tre.



Nhu Quynh - Mua Rung.



Nhu Quynh - Thanh Pho Suong Mu



Phuong Diem Hanh - Neu Ta Dung Quen Nhau



Tam Doan-The Son - Biet Noi Gi Day



Thai Chau - Loan Mat Nhung



Tran Thai Hoa - Em Gang Cho



Tran Thai Hoa - Thuo Ay Co Em











Chúng ta thấy NS Huỳnh Anh nói rằng anh sẽ trả lời hết về sự liên hệ của anh với người nữ nghệ sĩ khả ái Thanh Nga, tuy thế ai cũng hiểu anh tôn trọng người đã khuất nên luôn nhận phần thua thiệt về mình và nhận là tình cảm chỉ có một chiều từ anh mà thôi. Nhưng sau hai ngày ở Montréal, anh cảm thấy thân thiết hơn với chúng tôi, nên anh đã thổ lộ nhiều hơn về cuộc tình này, và mặc nhiên chấp nhận người viết có thể viết lại.











Thanh Nga là một nghệ sĩ được mọi người yêu mến, nhưng không được may mắn trên đường tình duyên. Anh gặp lại Thanh Nga khi cô đóng phim "Loan Mắt Nhung", mà anh là người viết nhạc chủ đề cho phim và đồng thời thâu thanh vào "soundtrack". Đây là thời gian đi xuống nhất về mặt tinh thần của Thanh Nga, vì nàng vừa trải qua 2 lần sóng gió, lần đầu là sự tan vỡ của cuộc tình kéo dài 3 năm với nam nghệ sĩ Thành Được, sau đó là một lầm lỡ thứ hai khi nàng hấp tấp lấy Đại úy Mẫn ngay sau đó như để chạy trốn cuộc tình trước. Cuộc hôn nhân chỉ kéo dài được vài tháng là đi tới kết thúc khi Đ/U Mẫn bị bắt và bị xử án tù vì tội danh tham nhũng. Thêm vào đó biến cố Tết Mậu Thân xảy ra, trận chiến ngày trước chỉ xảy ra tại miền quê, nay đã lan tới đô thị, vì lý do an ninh, sau đó là lệnh giới nghiêm được ban hành ở Sài Gòn đã làm đình trệ tất cả những sinh hoạt về đêm. Phòng trà, vũ trường cũng như sân khấu cải lương phải tạm ngưng hoạt động, do đó NS Hùynh Anh cũng có thời giờ đến thăm bà Bầu Thơ và ở chơi với Albert (kép Hữu Thìn), người anh của Thanh Nga và tập cho nàng tân nhạc để sau này có dịp sẽ hát tân cổ giao duyên trên sân khấu. Tình cảm nẩy nở giữa hai người, ban đầu mang tính cách của một người anh trai và cô em gái nhỏ. Những buổi Thanh Nga không phải hát, người ta thấy hai người sóng đôi đi chơi, có khi từ hậu trường đi vòng ra vào rạp ngồi xem trước các cặp mắt tò mò của mọi người.







Với tình trạng giới nghiêm tại Sài Gòn không biết bao giờ mới chấm dứt, bà Bầu Thơ quyết định mang đoàn hát ra Huế. Trước khi đoàn hát rời Sài Gòn, NS Huỳnh Anh đến từ giã, khi ấy anh đang đứng nói chuyện với Albert, thì Thanh Nga ở trong đi ra, bí mật đưa lá thư cho anh. Về nhà mở ra, anh đọc những giòng chữ thân mến viết lời chào tạm biệt và dặn dò anh bớt uống rượu hút thuốc, không phải như lời của một người em gái, mà lời lẽ trong lá thư ấy chứa đựng một tình cảm thắm thiết hơn nhiều. Sau đó ít lâu anh nhận một điện tín của Thanh Nga đánh về yêu cầu anh ra Huế gấp, nhưng anh không thể đi được. Thế rồi từ đó giòng đời phân đôi ngả, anh trở lại với vũ trường và Đoàn Thanh Minh Thanh Nga sau khi đi lưu diễn miền Trung trở về được chánh phủ đề cử đi trình diễn bên Pháp, nhân viên chánh phủ hướng dẫn phái đoàn là ông Đổng Lân. Sau khi lưu diễn bên Pháp trở về nước vài tháng, đám cưới Thanh Nga và ông Đổng Lân diễn ra, từ đó Thanh Nga sống yên ấm dưới mái gia đình cho đến khi bị hai hung thủ dùng súng bắn chết cả hai vợ chồng khi họ chống cự bảo vệ đứa con nhỏ tránh không để bị bắt cóc. Một chương sách đã vĩnh viễn khép lại.


















NS Huỳnh Anh còn có tài phổ nhạc vào thơ. Bài "Gửi Về Bên Ấy" là một bài thơ về Hà Nội, của nhà thơ Trần Quốc Lịch, và tuy Huỳnh Anh chưa bao giờ đặt chân đến Hà Thành, nhưng phần nhạc phổ vào, quyện với lời thơ lãng mạn làm thành một bài hát thật hay, nhưng đáng tiếc là ra đời quá trễ khi miền Nam gần mất, nên không được phổ biến rộng rãi:







Gió thu về mặt Hồ Gươm gợn sóng



Nhìn liễu xanh Em có thấy xôn xao



Vẫn vầng trăng của mười mấy năm nào



Em có thấy dáng Anh buồn trong gió.







Đường Ngọc Hà còn người lên Bách Thảo



Cầu Long Biên xe ngựa có còn qua



Đê Yên Phụ im lìm bên Bác Cổ



Đường Cổ Ngư còn lộng gió Hồ Tây







Rồi Đông sang Em có còn đan áo



Gửi cho Anh như thuở mới yêu nhau



Và giấc mơ làm chú rể cô dâu



Còn ấp ủ hay trở thành thiếu phụ.







Chớm Đông về, Hà Nội loang mây xám



Đưa bước khuya lạc lõng giữa đêm hoang



Nghe đêm nay khi tiếng gió sang mùa.







Bao thương nhớ, nhớ thương về bên Em.



(Nhạc: Hùynh Anh, Lời: Trần Quốc Lịch - Gửi về bên ấy).







Nhà thơ lãng mạn Trần Quốc Lịch chẳng ai xa lạ, chính là người hùng Nhảy Dù nổi tiếng trong trận mạc khắp bốn vùng chiến thuật, sau này lên tới chức Chuẩn Tướng chỉ huy một Sư Đoàn Bộ Binh. Nhưng anh hùng cũng không qua nổi ải mỹ nhân, anh bị tiêu tan sự nghiệp vì một người đẹp tên Th. Tr. Người viết còn nhớ ngày gặp anh tại Hội Quán Phượng Hoàng ở Pleiku vào Mùa Hè Đỏ Lửa, khi ấy anh còn là Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn II Dù. Lữ Đoàn của anh bị xé nhỏ thành các Tiểu Đoàn để đưa lên trấn giữ các ngọn đồi không tên ở Dakto, ngăn cản đường tiến của Bắc quân với quân số đông gấp bội. Quả nhiên Bắc quân đã dùng chiến thuật biển người, cường tập những vị trí phòng thủ của quân Dù, và sau đó tràn ngập mục tiêu. Một vài dòng để nhớ lại những ngày tháng lang bạt cũ!







Bản nhạc sau chót được nhắc ở đây là một thành công lớn nhất của NS Huỳnh Anh. Anh phổ nhạc cho bài "Rừng Lá Thay Chưa" của Thi Sĩ Hoàng Ngọc Ẩn:







Anh đi rừng chưa thay lá



Anh về rừng lá thay chưa



Phố cũ, bây chừ xa lạ



Hắt hiu, đợi gió giao mùa







Xuân xưa, mình chung đôi bóng



Xuân này, mình ngóng trông nhau



Cuốn hút, phương trời vô vọng



Nhớ thương bạc trắng mái đầu







Em, có về qua lối cũ



Phố phường, chừ đã đổi thay



Thương em, nửa đời hoang phế



Thương ta, chịu kiếp lưu đày







Xuân nay, mình em lẻ bóng



Có còn, tiếc nhớ xuân xưa



Dài tay, đếm từng nhung nhớ



Em ơi. chờ gió giao mùa



(Nhạc: Hùynh Anh, Lời: Hòang Ngọc Ẩn - Rừng lá thay chưa)







NS Huỳnh Anh đã tài tình khi chỉ dùng cấu trúc giản dị AABA (A là phiên khúc, B là điệp khúc). phần phiên khúc A tiết điệu nhịp nhàng được lập lại hai lần để sửa soạn cho phần điệp khúc B vút lên cao và kéo dài trường độ trước khi rơi xuống như trong bài vọng cổ xuống "xề" bật đèn màu, sau đó trở lại phiên khúc A với tiết điệu nhịp nhàng khi trở về chủ âm gây cảm giác thư thái cho người nghe. Nhạc trong bài này quyện với lời, và nhấn mạnh ở "điểm móc" với hai câu:







Thương em nửa đời hoang phế



Thương ta chịu kiếp lưu đầy.







Ai đã từng đi chinh chiến, trấn đóng nơi rừng sâu núi thẳm, giăng võng nằm nghe mưa rơi, nhớ tới người vợ hiền ở nhà, mới thấy hai câu thơ này thấm thía thế nào...







Bài viết này được viết để kỷ niệm duyên gặp gỡ tuy ngắn ngủi nhưng đồng điệu giang hồ nên trở thành gắn bó để gửi tới NS Huỳnh Anh, "gã giang hồ" trong âm nhạc.







Bồ Giang Công Tử



Montréal 7/2004

Thứ Năm, 26 tháng 6, 2008

Hoàng Ngọc Ẩn-Những đường bay vần điệu đam mê...

Đó là thành phố Los Angeles năm đầu của thập niên tám mươi, khi những con bồ câu còn xuống những ngọn đồi bên kia đường Sunset. Khi những ngày mưa còn hốt hoảng bay thong thả những lượng nước xuống đáy khuya của Culver City, nơi tọa lạc của Nhà In Kim, đứng đầu bởi người họa sĩ tiếng tăm một thời, Lâm Triết, sơn dầu. Cái địa chỉ của những tựu thành chập chững mà tươi rói da non văn học Việt Nam quê người. Đó là nơi những trang báo “Văn” tục bản đầu tiên, do Mai Thảo chủ trương. Nơi điệu khắc gia Mai Chửng ngả tấm lưng mệt mỏi, rã rời sau những ngày vượt biển bão tố. Nơi “Tiểu Thuyết Tuần San” mang hoài bão phá rừng, khẩn hoang cho văn chương ta ở quê người một vùng đất mới. Nơi đó, nơi bước tới, ở lại, làm việc và ngả lưng của một thanh niên, mang trong lồng ngực trái tim trẻ thơ cùng tình yêu thi ca đầu đời, bất biến Hoàng Ngọc Ẩn.

Làm thơ, sinh hoạt với văn học nghệ thuật ở Việt Nam, là tri kỷ của những tên tuổi lớn như: Nguyễn Thị Vinh, Vi Huyền Đắc, Hoàng Hương Trang, Lệ Khánh, Kiều Mộng Thu… từ rất sớm, nhưng ở thời điểm chưa mất nước. Hoàng Ngọc Ẫn chưa là con chim tung hết đôi cánh đo chiều rộng không gian bởi những ràng buộc công việc và chức vụ.

Phải tới lìa xa đất nước mến yêu, phải giữa khi quê hương nghìn trùng khuất lấp, tổ quốc phương xa thôi thúc, lưu vong, đánh những nhát búa xuống tâm thức lưu đày, lầm than, lúc đó lồng ngực Việt Nam trong Hoàng Ngọc Ẫn, mới toàn vẹn nhịp đập thi ca.

Phải tới lìa xa đất nước mến, phải sau đứt lìa, trái tim thi ca trong một Hoàng Ngọc Ẫn truy tầm quá khứ, duổi bắt kỷ niệm, mới thực sự thức dậy, bay vào vòm trời thi ca Việt nam, quê người.

Những dòng thơ mang tên Hoàng Ngọc Ẫn sũng ướt kỷ niệm, ắp đầy quá khứ, đã là những mũi tên tâm cảm tự tìm lấy cho nó đường về tri kỷ.

Những dòng thơ mang tên Hoàng Ngọc Ẫn, lập tức, đã là những tiếng kêu thương của một loài chim lẻ bạn, bên trời, ngân vang, đồng vọng núi đồi.

Mỗi đời nhạc, như mỗi dòng thơ, tự tìm lấy cho nó một tri âm. Mỗi đời thơ, như một đời nhạc, tự đòi lấy cho nó một cuộc hôn phối tốt đẹp và xứng hợp.

Định luật tự nhiên của thiên địa, của nhật nguyệt này, đã mang lại cho đời thơ Hoàng Ngọc Ẫn, những cuộc phối ngẫu xứng hợp nhất.

Có dễ chưa có một nhà thơ nào, có được những hôn phối giữa vần điệu âm giai hòa hợp, thấm sâu như thơ Hoàng Ngọc Ẫn và nhạc của những nhạc sĩ thời danh. Những thi phẩm được phổ từ thơ Hoàng Ngọc Ẫn, lập tức trở thành những phi thuyền bay vút vào không gian. Những chiếc phi thuyền tâm cảm, ném ngược trở lại nhân gian, những lời thơ và những cung bậc mà, mỗi chúng ta, ít nhất cũng đã hơn một lần đón nhận, lắng nghe, rung động.

Đó là những phối ngẫu tuyệt vời giữa thơ Hoàng Ngọc Ẫn và những tên tuổi đồng nghĩa với âm giai, như Phạm Duy, như Phạm Đình Chương, như Huỳnh Anh, như Anh Bằng, như Trầm Tử Thiêng, như Lê Uyên Phương, như Nhật Ngân, như Phó Quốc Thăng, như Lê Dinh, như Hoàng Cầm, như Hoàng Văn, như Song Ngọc, như Châu Đình An, như Trần Quan Long, như Việt Dzũng, như Khúc Lan, như Hoàng An, như Hoàng Thanh Tâm….

Mỗi cá nhân, từ chỗ đứng, từ vũ trụ nhỏ, với những cảm nhận nhỏ, với những cảm nhận siêu hình, vô thức riêng, sẽ mang lại ta, một giải thích cho những cuộc hôn phối giữa thơ Hoàng Ngọc Ẫn và nhạc của các nhạc sĩ kia. Giải thích nào, tự nó cũng là một đáp ứng đủ cho tựu thành này.

Có người cho rằng thơ Hoàng Ngọc Ẩn vốn đầy ắp nhạc tính hay thơ Hoàng Ngọc Ẫn tự thân đã là âm nhạc.

Có người cho rằng thơ Hoàng Ngọc Ẫn đã mang lại cho thiếu hụt, cho khuất vắng của tâm hồn ta, lượng thực phẩm tâm linh, lãng mạn ngất ngây, chân chất.

Có người lại cho rằng thơ Hoàng Ngọc Ẫn đã mang lại cho đời những thảm cỏ nõm xanh, nơi đó, những cánh bướm xưa, những vườn ao cũ, những giậu mồng tơi, nhửng giàn thiên lý….trong mơ…

Nói cách nào, đứng từ vị trí nào, từ vị trí chủ vị hay khách quan, thì thơ Hoàng Ngọc Ẫn, vẫn là một thực thể mang ý nghĩa một hiện diện tất yếu, thuận chiều bất đảo nghịch trong dòng sông tâm cảm của một đời lưu vong ta, ở quê người.

Nói cách nào thì:

Hẹn đến thăm rồi không đến thăm

Chiều hoang mình lặng mắt chờ trông

Người yêu hẹn đến rồi không đến

Hẹn đến sao rồi không đến thăm?!



Hẹn viết thư rồi không viết thư

Chao ơi! Mình chỉ uổng công chờ

Người yêu chắc hẳn giờ quên lãng

Lặng để sầu dâng ngập tâm tư…!



Mùa đã sang rồi em có hay?

Người đi từ độ tuyết giăng đầy

Vàng thu thưở trước còn vương vấn

Em có chạnh lòng trong phút giây?



Chẳng biết em còn thương nhớ nhau

Mùa trang mộng cũ giạt về đâu?

Ngàn xưa chắc hẳn không còn nhớ

Thì nhớ nhung gì vạn kiếp sau?!



Trời đã sang mùa nghe trở lạnh

Vai gầy run nếp áo thi nhân

Thức trắng canh dài mơ ảo ảnh

Chao ơi! Băng giá chỉ riêng mình…!!




(Đó là thơ Hoàng Ngọc Ẫn qua nhạc Hoàng An, dưới nhan “Mùa Đã Sang Rồi Em Có Hay?”

Mỗi dòng thơ là một câu hỏi, một vấn nạn tình yêu nhẹ nhàng mà tha thiết. Một hững hờ mà quyến luyến, bơ vơ. Một trách móc thương yêu mà thật ra là van nài ở với.

Cũng thế, trong “Buồn Xưa”, thơ của Hoàng Ngọc Ẫn, được âm giai mang tên Phạm Duy nâng bổng lên những tầng cao sương khói với:


BUỒN XƯA

Từ vắng Em rồi tôi nhớ thương

Lần theo từng kỷ niệm yêu đương

Chao ơi! Thu đã qua thành phố

Thu đến rồi Em có vấn vương?



Lần tiễn nào không xót xa

Tôi về phố cũ nhìn mưa sa

Mùa đông sắp gội qua thành phố

Lần ngón tay chờ năm tháng qua…!



Vùng tóc Em thơm mùi đại dương

Vòng tay dìu dịu, mắt Em buồn

Bờ môi nũng nịu nhiều thương nhớ

Tôi đắm say qua từng nụ hôn…



Từng nụ hôn dài không muốn dứt

Từng vòng tay siết chặt bờ vai

Yêu thương đó tháng ngày lây lất

Tôi vẫn mơ và vẫn đắm say…



Cho đến bây giờ tôi chợt hiểu

Chuyện tình xưa đã khép ô vuông

Từng đêm mặc niệm nhiều thương nhớ

Kỷ niệm buồn xưa thắm thía buồn…!



Mỗi lời, mỗi ý, mỗi ảnh hình hay hồi tưởng mông lung nơi thơ Hoàng Ngọc Ẫn, tự nó đã ẩn chứa một nốt nhạc bổng trầm những nhờ nhung khôn dứt, những vắng xa vô bờ. Không cần một cố gắng nào, chỉ cần một lắng nghe, nhạc đã lừng vang trong mỗi vần, mỗi chữ.

Cũng thật dễ dàng, thật nhẹ nhàng, tự nhiên như hoa nở, như khí trời, nhạc Phạm Duy đưa thơ Hoàng Ngọc Ẫn đi vào long người, bằng những bước ngân nga của rừng hay hoàng hôn của nắng:


Sao Em biết thu về mà đan áo?

Vàng thu xưa, vàng cả cuộc tình mình

Mây tháng Tám giăng đầy trời mộng ảo

Gió đầu mùa giá lạnh cả hồn anh…!



Thư ngày cũ từng đêm mang ra đọc

Lời Em xưa sao êm ái đậm đà

Ta mặc niệm một cuộc tình đã lỡ

Em đi rồi như một ánh sao sa…!



Theo sóng đời Em trôi vào biển lạ

Anh lang thang khắp lục địa trông tìm

Anh mòn mõi theo tháng ngày nghiệt ngã

Từng thu tàn vẫn bặt dấu chân chim…!



Mưa tháng Tám giăng đầy trời Texas

Trời D.C. (Đi-Xi) mùa chắc đã sang rồi?!

Mang chiếc áo của ngày nào ra mặc

Mang thư tình ra đọc mãi không thôi…!



(Nhạc phẩm “Sao Em Biết Thu Về” do Phạm Duy soạn thành ca khúc từ thi phẩm “Tháng Tám Mưa Mây” của Hoàng Ngọc Ẩn.)


Trong thơ Hoàng Ngọc Ẫn thời gian, không gian luôn chiếm lĩnh một vị trí quan trọng. Sự quan trọng của không gian, thời gian trong thơ họ Hoàng, làm nền lót cho những hình ảnh quen thuộc, cho những gợi khêu cảnh tượng muôn dời còn lấp lánh trong ký ức nhân gian.

Ở một thi phẩm khác, một thi phẩm được Việt Dzũng, chọn hầu gửi gắm không chỉ cung bậc mà cả tâm hồn, cả xót đau kiếp người, tình yêu mình trong đó; thi phẩm “Bên Đời Hiu Quạnh”, đã là một quen thuộc, đã là một vỗ về, an ủi đêm ngày cho những tâm hồn cô đơn, cho những gối đơn, cho những chăn lẻ và cho một bóng võ vàng.


Tiếng hát khơi dòng thương nhớ xưa

Mênh mang trời đất mới giao mùa

Ở đây ta vẫn sầu cô quạnh

Vẫn nhớ thương về năm tháng xưa…!



Vẫn xót xa đau ngày hạ cũ

Lỡ làng cho một kiếp phù sinh

Người đi từ thưở vô tình ấy

Để lại lòng ta xót một mính!!



Nếu đã xem nhau là quán trọ

Vị đời hãy cạn những chiều say

Gió mưa trả lại đời mưa gió

Một thoáng dâng sầu trong mắt ai…!!



Men chẳng ấm lòng khi cách biệt

Giang hồ rượu uống mãi khôn say

Môi vẫn tìm môi chừng đã nhạt

Hương thừa nghe một thoáng men cay…!



Thôi giã từ nhau như bóng mây

Và, trôi theo ngày tháng lưu đày

Đất khách mấy mùa trăng ngóng đợi

Quê nhà từng cánh nhạn tung bay…


Rừng khuya khắc khoải từng cơn gió

Phố cũ mong chờ cuộc đổi thay

Chim Hồng vút cánh trời thăm thẳm

Gió vẫn vô tình, mây vẫn bay…



Người đi từ thuở vô tình ấy

Để lại lòng ta xót một mình

Để lại lòng ta buồn biết mấy

Lỡ làng cho một kiếp phù sinh!



Tiếng hát khơi nồng chăn gối xưa

Mênh mang trời đất mới giao mùa

Cố nhân có xót niềm cô quạnh

Có nhớ thương về năm tháng xưa?!



Như thế đó mà thơ Hoàng Ngọc Ẫn mặc nhiên, trở thành một cần thiết cho đời sống tâm cảm của ta. Một cần thiết mang tên thi ca âm nhạc. Một cần thiết làm sáng lên cái ý nghĩa toàn vẹn của những cuộc hôn phối giữa vần điệu và thanh âm, giữa nghìn sâu lắng đọng nhớ thương của người thơ và dĩnh cao nát tan của người nhạc.

Tựu thành kia, cuộc hôn phối tốt đẹp nọ, rực rỡ chói gắt hơn cả, tiêu biểu hơn cả, là thi phẩm “Rừng Lá Thay Chưa?”: của họ Hoàng qua nét nhạc tài hoa, kén chọn của nhạc sĩ Huỳnh Anh. Đó là một trong những hạt ngọc của thơ nhạc Việt Nam ta, ở quê người. Đó là một trong những đón nhận huy hoàng, vẻ vang của thơ nhạc ta, ném ngược về cha, chấn động khắp những bục gỗ quê mẹ.

“Rừng Lá Thay Chưa?” thơ Hoàng Ngọc Ẫn, không chỉ là một chọn lựa thứ nhất, đầu tiên của tất cả mọi giọng hát vàng mười của ta ở hải ngoại, mà, những tiếng hát Việt Nam ở lại, giữa Sài Gòn cũ, giữa Hà Nội xưa, nơi những tụ điểm nhạc từ Nam ra Bắc, cũng là chọn lựa thứ nhất của những tiếng hát thành danh, đã chói lọi.

Tựu thành này, vinh dự này, chưa một nhà thơ Việt Nam nào ở quê người được đón nhận. Hòa điệu này, sáng giá này, chưa một nhạc sĩ Việt Nam nào ở bên ngoài quê hương, được đón nhận. Trừ, Hoàng Ngọc Ẩn. Trừ, Huỳnh Anh.


Anh đi, rừng chưa thay lá

Em về, rừng lá thay chưa?

Phố cũ bây chừ xa lạ

Hắt hiu đợi gió giao muà…!



Xuân xưa, mình chung đôi bóng

Xuân này, mình ngóng trông nhau

Hun hút phương trời vô vọng

Nhớ thương bạc trắng mái đầu!



Em có về qua phố cũ

Phố phường chừ đã đổi thay

Thương em, nửa đời hoang phế

Thương ta, chịu kiếp lưu đày!



Xuân nay, mình em lẻ bóng

Có còn tiếc nhớ xuân xưa

Dài tay đếm từng nhung nhớ

Em ơi! Chờ gió giao muà…!



(Trọn vẹn nhạc phẩm “Rừng Lá Thay Chưa?” thơ Hoàng Ngọc Ẫn, nhạc Huỳnh Anh).



ImageImage


Nếu thơ tự nó đòi hỏi cho nó những tri âm, nếu thơ tự nó đòi hỏi cho nó, những hồn nhạc xứng hợp, để làm thành những tựu thành tốt đẹp, tiêu biểu cho tính chất nhất nguyên của cặp nhị nguyên thi-ca thì, âm nhạc cũng tự nó đòi hỏi cho nó những tri âm, đãi lọc từ các tiếng hát.

Hồi nào giờ, tôi vẫn hằng quan niệm, một tiếng hát là một sứ giả âm nhạc thủy chung, tuyệt vời nhất của một dòng nhạc, của một nhạc sĩ. Nếu như có những sứ giả , những kẻ thừa sai âm nhạc là những giọng hát, chúng ta sẽ không có âm nhạc. Định đề này, còn khắc nghiệt, kỳ khu hoặc khi nó đòi hỏi một giọng ca cho một nhạc phẩm vốn khởi đi từ thơ. Tuy nhiên, nếu định đề này được hoàn chỉnh một cách nghiêm cẩn thì mỗi tiếng hát, đã không chỉ hát nhạc mà, họ còn hát thơ. Hát cùng lúc tấm lòng, nói hộ cùng lúc, tiếng nói của trái tim thi sĩ và, trái tim nhạc sĩ. Kẻ thừa sai âm nhạc là các ca sĩ kia, đương nhiên, trở thành hiện thân của những tựu thành hai mặt. Qua tiếng hát, cùng lúc, người hát, rao giảng với nhân gian thơ ca và nhạc ca.

Những tiếng hát có được khả năng này, những tiếng hát như những thừa sai thi và ca kia, được tập trung nơi hai compact disc, mang tên “Màu Tím Tango” và Bài Tango Cho Người Tình Lỡ”.

Đó là tiếng hát của một Lệ Thu, huyền thoại; một Khánh Ly, tiên tri; một Ngọc Lan, sương khói; một Như Mai, rạo rực; một Mai Hương, hiếm quý; một Xuân Sơn, nghìn sâu; một Giao Linh, thương cảm; một Lưu Hồng, nhức nhối; một Hương Lan, thịt xương; một Elvis Phương, xoáy buốt; một Duy Quang, lãng mạn; một Châu Đình An, biển khơi; một Giáng Ngọc, dỗi hờn và một Thái Hiền, óng mượt…

Thơ Hoàng Ngọc Ẫn, xẻ đều cho cả hai compact disc này, như một vùng trời khói sương, mưa buốt trên thân phận, đời sống và tình yêu ở mặt khổ đau, đọa lạc của chính ta vậy.

Hồ Huấn Cao


(1-1992)


Thứ Sáu, 20 tháng 6, 2008

Sĩ Phú-Tiếng Nhung Mềm






Sự thưởng ngoạn một giọng hát tùy thuộc vào nhiều yếu tố.


Trước hết là loại nhạc mà người thưởng thức lựa chọn. Dĩ nhiên, khi thích nghe opera thì người thưởng ngoạn thích giọng càng mạnh càng quý, hơi càng dài càng đẹp. Mà hát opera thì khi trình bày cả một vở tuồng, ca sĩ phải có giọng mạnh thì mới qua cầu được. Tuy nhiên cũng có những trường hợp đặc biệt mà giọng hát “mảnh mai” vẫn hấp dẫn, đó là nếu có yếu tố nổi bật khác.


Trường hợp José Carreras là một thí dụ. Giọng ông không mạnh bằng hai đối thủ và cũng là bạn thân là Luciano Pavarotti và Placindo Domingo. Nhưng bù lại, giọng ca tình cảm và nhất là phong thái trầm tĩnh lịch sự lại là yếu tố khiến nhiều người có cảm tình. Maria Callas nổi tiếng là giọng hát của thế kỷ không nhờ hát mạnh. Thật ra, giọng của đệ nhất soprano trong nghệ thuật bel canto này hơi mỏng, nhưng cách diễn tả (interpretation) điêu luyện và truyền cảm làm âm sắc giọng hát trở nên độc nhất vô nhị trong thế giới opéra. Ðã nghe là người ta phải nhớ.


Ðó là nói về opéra. Chứ trong loại nhạc phổ thông mà mình thường nghe, và Tây họ gọi là ca khúc trữ tình êm dịu (les chansons de charmes) thì sao? Ðó là một sự thưởng ngoạn tự do. Ai muốn thích ai cũng được, không có tiêu chuẩn nào đặt ra cả.


Ở một bài tạp ghi trước, người viết có gợi lại “giọng hát trượng phu” của nam danh ca Anh Ngọc. Sở dĩ gọi là trượng phu vì chất giọng của ông sang sảng, chắc nịch, đầy nam tính. Khi hợp ca, giọng Anh Ngọc bao trùm lên tất cả giọng hát khác. Cùng trường phái với Anh Ngọc, nhạc Pháp có Gilbert Bécaud, và nhạc Mỹ có Neil Diamond. Giọng của họ mạnh, âm sắc rõ, cứng cỏi.


Cùng thời với Anh Ngọc, có giọng Vũ Huyến nhẹ hơn và thanh hơn. Có dạo, hai người song ca với nhau trên các sân khấu phụ diễn tân nhạc trước giờ chiếu phim. Vì giọng yếu hơn, Vũ Huyến thường giữ bè cho Anh Ngọc. Vũ Huyến thành công với loại nhạc tình cảm nhẹ nhàng, đôi khi hơi có chút chuyện kể (trong Cô Hàng Nước) hay hài hước (Cái Áo The Thâm Tàn)... Nam ca sĩ Ngọc Long (em trai của Anh Ngọc) hát không điêu luyện được bằng anh, nhưng giọng hát êm và tình cảm của ông rất thích hợp với những ca khúc của Ðoàn Chuẩn và Từ Linh.


Giọng ca mạnh hay yếu, đều có thể trở thành thần tượng, nếu chọn đúng bài hát và người nghe.


Cùng trường phái Anh Ngọc, một thế hệ sau chúng ta có Hùng Cường (khi anh chưa tham gia sân khấu cải lương) Thanh Vũ, sau nữa là Elvis Phương khi anh trở lại với nhạc Việt... Ngày nay, sau Tuấn Ngọc chúng ta có Quang Tuấn, giọng hát mang một sắc thái góc cạnh, người Mỹ thường dùng chữ “rough”, là đầy nam tính.


Nhưng không hẳn là giọng nam phải luôn phải sắc cạnh thì mới hay, và được yêu thích. Có nhiều giọng nam thuộc trường phái êm dịu nhẹ nhàng cũng được nhiều người mến mộ. Ðiển hình là giọng ca Tino Rossi ẻo lả như con gái được cả một thế hệ 40-50 coi là thần tượng. Thời ấy, các bậc sinh thành ra thế hệ của người thường ngâm nga bài J'attendrais... không theo Rina Ketty mà theo chất giọng êm như nhung của Tino Rossi. Ðấy là thần tượng của nhiều thế hệ khi mình còn bị ảnh hưởng của nhạc Pháp, thời... tiền chiến Pháp.


Cũng vậy, khi loại nhạc hương xa Hoa Kỳ bắt đầu lan đến Việt Nam thì các nhà đều đón giờ phát thanh chương trình nhạc ngoại quốc để được nghe giọng ngọt như mía lùi của Andy Williams, Bing Crosby, hay giọng mơn trớn đầy... nữ tính của Johnny Mathis.








Tại Việt Nam, từ cuối thập niên 50, các giọng Duy Trác, Ngọc Giao, Ðỗ Tuấn êm ái ru hồn các thanh niên thiếu nữ trong giới sinh viên, học sinh, nhất là những người vừa di cư từ Bắc vào Nam. Sang đến cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70 thì những giọng êm nhẹ của Sĩ Phú, Jo Marcel, Anh Khoa và cả Duy Quang thời mới lớn... đã chiếm nhiều cảm tình của giới yêu nhạc. Ðặc biệt nhất là giọng ca Sĩ Phú.


Sĩ Phú thành công ngày từ buổi đầu khi xuất hiện trên màn ảnh vô tuyến truyền hình Việt Nam. Với vóc dáng cao, hào hoa trong bộ quân phục của binh chủng không quân, ông được khán thính giả truyền hình, nhất là phái nữ, lập tức coi là thần tượng.


Lạ một điều là giọng hát Sĩ Phú tương phản với vóc dáng cao lớn, oai hùng của ông.


Chất giọng Sĩ Phú nhẹ lắm, ông hát gần như thủ thỉ. Cái lối thủ thỉ ấy thật tuyệt khi ông hát những bài có nội dung kể chuyện, nhất là kể chuyện tình. Trong một ý nghĩa nào đó, giọng tơ mềm như nhung của Sĩ Phú khiến ta nhớ đến các ca sĩ loại “crooner” của Hoa Kỳ, như Vic Damone, Dean Martin, Andy Williams và cả Tony Bennett. “Crooner” là những giọng nhung mềm, hát các bài truyện kể có khi xuất xứ từ thơ, và trở thành những ca khúc phổ thông.


Cũng như thế các ca khúc “Cô Láng Giềng” của Hoàng Quý, “Cô Hàng Cà Phê” của Canh Thân, được Sĩ Phú kể lại bằng cái giọng nhỏ nhẹ, nghe như vừa đủ bên tai một câu chuyện thật ra chẳng có gì đặc sắc, mà sao lại rất quyến rũ... Dường như vừa kể chuyện, Sĩ Phú vừa dùng câu chuyện để thổ lộ tâm tình của mình cho người nghe. Lập tức người nghe cảm thấy như mình là nhân vật của truyện, cũng được khối người trồng cây si trước nhà! Và đâm ra ngẩn ngơ cảm động...



Và khi Sĩ Phú hát “Người Yêu Tôi Khóc” của Trần Thiện Thanh, thì tác giả có hát lên câu chuyện thật của mình cũng không “thấm” hơn được. Chất giọng nhẹ nhàng êm ấm ấy như hát thay cho những tình nhân của đời thường. Họ thấy được cái mong manh của cuộc tình, và hạnh phúc đã có thì chỉ thoáng như bóng mây. Ca khúc từ thơ phổ nhạc của Phạm Duy “Còn Chút Gì Ðể Nhớ” được Sĩ Phú trình bày rất đạt.


Không như phần lớn ca sĩ khi hát bài này thường hay trổ giọng để khoe làn hơi dài của mình, Sĩ Phú chỉ hát vừa đủ mạnh thôi. Không cường điệu chút nào. Vừa đủ để nhớ, và để thương. Giọng hát mang mang tâm sự tiếc nuối, có tình cảm mà như e ấp, một cuộc tình chỉ mới chớm nở thôi, mà khỏi cần gào lên nỗi tuyệt vọng... Phải là cái chất giọng nhẹ nhàng, thủ thỉ mới diễn tả được như thế, và thính giả cảm nhận được nhờ lối hát ấy.


Hình như chúng ta đang mất dần những tiếng hát nhung mềm ấy. Phải chăng sự hối hả của cuộc đời khiến mình không còn nghe được lối hát tâm tình e ấp đó?

Quỳnh Giao

March 04, 2008







PART 1

PART 2



MORE EPISODE HERE: SĨ PHÚ-GIỌNG TÌNH HÁT NHẠC TÌNH

DuyTrác- Còn tiếng hát gửi người...

Tôi đã nghe tiếng hát Duy Trác sau một vài năm thành lập nền Đệ Nhất Cộng Hòa ở miền Nam Việt Nam . Cũng có thể trước đó, anh đã có hát trên làn sóng điện đài Sài Gòn .







Thuở đó, Duy Trác đã cộng tác với nhiều ban nhạc . Những giọng hát bên nam giới mà tôi thích gồm có: Anh Ngọc, Ngọc Long, Ngọc Quang, Ngọc Giao, Đỗ Tuấn, Trần Ngọc (về sau sáng tác nhạc lấy nghệ danh là Tuấn Khanh), Nhật Bằng, Hồng Phúc và Duy Trác . Anh Ngọc có giọng hát điêu luyện vào bậc nhất . Hồng Ngọc có giọng nhẹ như khói sương lan . Ngọc Quang hát dân ca cực kỳ truyền cảm . Nhật Bằng hát nhạc biệt thể có phong độ nhất Hoa Kỳ . Hồng Phúc có giọng mềm như mây, đẹp như ráng chiều . Ngọc Long và Duy Trác có giọng trầm gợi cảm tuyệt vời .







Thuở còn là học sinh, sinh viên, Duy Trác có một âm sắc đẹp và trầm hùng trong giọng hát, không phải ở những lúc anh hát những bài hành khúc mà ngay lúc anh hát những bài tình cảm . Âm sắc trầm rền và dội sâu đó cùng với làn hơi phong phú của anh làm cho người nghe có cảm tưởng đó là tiếng âm u huyền bí ở miền thâm sơn hoang dã . Nó như vọng mang mang khắp bãi sú bờ hoang của dải trường giang, hay dội bập bùng vào hang thẳm hay trên vách đá dựng, vách cổ thành . Và ta cũng có cảm tưởng đó là tiếng trống từ một thế giới vào thời thái cổ hồng hoang nào vọng lại . Tiếng hát anh chứa một tiềm lực bền bỉ, một sinh lực dồi dào . Chuỗi ngân của anh rõ nét sóng thu, không nhỏ mức như chuỗi hạt cườm, mà cũng không nhọn sắc răng cưa .







Hồi ở quê nhà, tôi chưa hề gặp Duy Trác, mà cũng không thấy hình ảnh anh chiếu trên Tivi . Lúc đó anh chỉ ca hát trên đài Sài Gòn và trong băng nhạc Tứ Quý (gồm có Lệ Thu, Khánh Ly, Tuấn Ngọc và Duy Trác) . Ra hải ngoại, tôi chỉ gặp anh trên các băng hình của Trung Tâm Thúy Nga . Đây là lúc anh bước vào tuổi lục tuần, đã vào chặng giữa ca mùa thu của cuộc đời .







Duy Trác không xấu không đẹp . Vầng trán anh sáng sủa, sóng mũi không thanh mà cũng không thô . Khuôn mặt anh tràn vẻ nam tính, hơi khắc khổ một chút làm hiển lộ tràn đầy cái nghị lực bẩm sinh của anh . Cái défaut trên khuôn mặt anh là hàm răng trên hơi vẩu, cặp răng nanh khi anh lớn tuổi hơi dài nên môi trên không che kín miệng anh một cách tự nhiên . Cho nên khi anh ngậm miệng thì cặp môi anh có vẻ buồn bã, không được thoải mái . Song cái nhìn tự tin của anh, khuôn mặt trí thức của anh tạo cho anh một vẻ thư thái, nhàn tĩnh . Khi chường mặt trên Tivi, anh ăn mặc theo giới công chức cao cấp: diện bộ complet may khít khao theo ni tấc, thắt cà-vạt với màu sắc trang nhã, tóc chải bóng loáng . Trông anh “mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao”. Nhưng không được sáng mắt lắm . Thật ra, khi bước vào ngưỡng cửa hoàng hôn cuộc đời, nhất là bởi cái địa vị xưa cũ trong xã hội Việt Nam trước ngày 30/4/75, anh không thể ăn mặc bay bướm cho ra vẻ nghệ sĩ trình diễn được . Và khi thấy anh ăn mặc thanh lịch và phong nhã, tôi có cảm tưởng kỳ hoặc:







- Đây là một công chức cao cấp hát trong một buổi tiếp tân hay buổi dạ tiệc có tính cách thân hữu đúng hơn .







Dù tôi có nghĩ sa đà kỳ cục như thế, nhưng tiếng hát của Duy Trác chẳng những không phải là tiếng hát tài tử mà là tiếng hát nhà nghề cực kỳ điêu luyện, một giọng tinh túy được gạn lọc hết những cái tạp chất giữa một số đông giọng danh tiếng dương thời hoặc đi sau anh .







Nếu Duy Trác hát ở trong một thính phòng ấm cúng hoặc ở phòng trà nho nhỏ, dù giàn nhạc không có cây đại hồ cầm (contrebasse), tiếng hát anh vẫn có thể gợi dư âm dư hưởng của tiếng đại hồ cầm ấy . Tiếng hát trầm của anh càng xuống thấp càng chắc nịch, như vọng âm rền rền vào những ngõ ngách kín đáo của trái tim của thính giả, vào những hẻm hóc huyền bí của tâm hồn thính giả . Những bài có những chỗ xuống trầm như “Nhắn Gió Chiều” của Nguyễn Thiện Tơ, “Chung Thủy” của Văn Phụng, “Đừng Xa Nhau” của Phạm Duy là những chỗ để anh biểu diễn cái thiên phú, cái mê hoặc, cái quyến rũ trong giọng hát anh . Và từ đó, chúng ta có cảm tưởng mình đứng trên chiếc thạch kiều cong vòng và cao vút ngó xuống dòng sông huyền ảo chảy thiêm thiếp dưới chân cầu . Sông trải mặt nước đen như mực Long Tể mới mài trong nghiên đá và in bóng viền trăng mỏng cùng muôn ngàn tinh tú lấp lánh . Cứ mỗi tiếng trầm trong câu hát của anh như bốc ra một làn u hương, ngây ngất đậm đà như hương dạ lý ở bờ rào, như hương nguyệt quý trong khu vườn chập chùng bóng lá .







Nhiều ca sĩ tài tử tưởng bở rằng khi hát bằng giọng ngực (son de poitrine) uồm uồm như trâu gầm bò rống là mình có giọng trầm như Duy Trác . Nhưng giọng ngực chỉ có khàn mà không rền xa, không dội sâu như giọng trầm . Lại nữa, ai đó xài giọng ngực nhiều quá chỉ tổ làm cho thính giả cảm thấy ran ran ở ngực họ . Giọng trầm tự nó có chất ngọt đậm, chất nồng nàn, càng nghe thính giả càng thấy dễ chịu, còn giọng ngực khi xuống trầm chẳng những không thông mà còn làm cho khán thính giả cảm thấy nghèn ngẹn ở cổ . Ở trong ca trường nhạc giới của chúng ta xưa giờ chỉ có bốn ca sĩ có giọng trầm là Ngọc Long. Hoài Bắc, Sĩ Phú và Duy Trác . Nhưng trong bốn ca sĩ ấy, Duy Trác có giọng trầm điêu luyện và quyến rũ nhất .







Nghe Duy Trác hát, chúng ta có thể liên tưởng đến giọng hát của nam danh ca Yves Montand của nước Pháp . Anh chàng này có giọng trầm, nhưng âm sắc lại hào hoa, bay bướm, duyên dáng, đầy vẻ mê hoặc làm cho hằng triệu con tim phụ nữ phải rung động . Trong khi đó, âm sắc trong giọng hát của Duy Trác thì buồn dìu dịu, nhưng là nỗi buồn dai dẳng . Một đàng gợi nên một phiên chợ vào hội chơi xuân đầy màu sắc tươi vui sặc sỡ . Một đàng gợi nên ngôi đền trầm mặc trong bóng tà dương nhợt nhạt hắt hiu .







Sau ngày 30/4/75, Duy Trác phải đi học tập cải tạo . Nỗi lầm than cơ cực của anh trong lao tù, sức nặng của tuổi đời chồng chất trên vai trên lưng anh vẫn không cướp mất làn hơi phong phú của giọng hát anh bao nhiêu . Âm sắc trong tiếng hát của anh thì trước sao sau vậy, vẫn đẹp và vẫn đậm đà như thuở nào .







Tuy nhiên vào năm 1998, trong đĩa nhạc “Gọi Tên Bốn Mùa”, Duy Trác hát kém hơn cách đây hai năm . Giọng tuy xuống trầm khá dễ dàng nhưng không rền như tiếng sấm xa, không dầy như tảng lam thạch xây lăng miếu và không dội sâu những tiếng vọng mang mang như xưa . Chuỗi ngân của anh vẫn óng ả, nhưng chỉ gợn những nét nhăn chìm chìm chứ không gợn những nét thu ba duyên dáng như vào các thập niên 50, 60, 70 . Có phải chăng hơi anh không còn mạnh như cuồng phong bạo vũ ? Hay có cái gì xảy đến trong cổ họng anh ?







Dù sao đi nữa tôi vẫn giữ niềm tin rằng khi Duy Trác ra hải ngoại được thở bầu khí quyển khoáng đạt dưới vòm trời bát ngát và trên đất nước Hợp Chủng Quốc bao la . Nơi đây có cuộc sống thanh bình, có nhân quyền tự do và có một số đông kẻ ái mộ anh . Cầu chúc cho anh sẽ hát dài dài bằng phong độ như khi anh vừa đặt chân lên xứ Mỹ . Cầu chúc cho cái ngày giọng anh theo luật đào thải của thời gian hãy còn xa lắc xa lơ . Chẳng ai muốn gặp cái lúc anh không còn hơi hám để hát . Chẳng ai muốn chứng kiến lúc anh dùng hơi tàn để rống lên hát và để từ Duy Trác anh trở trành Duy Chát ! Mong lắm thay !







Hiện nay, khi tôi viết chương sách nầy thì Duy Trác cộng tác với đài VOVN (Voice of VietNam in Houston) phát thanh hằng ngày từ 4 giờ chiều đến 9 giờ tối trên băng tần KENR 1070 AM tại Houston (Texas).







Hồ Trường An




(trích “Chân Dung Những Tiếng Hát, quyển 1. NXB Tân Văn . Đông Kinh, Nhật Bản 2000)